Đạo làm người

Đại lão Hòa thượng Thích Trí Hải

Ngài là một pho tượng Phật hóa rồng, có đầy đủ “đạo, học, hạnh, nghị” với tấm lòng nhân hậu, trải qua mọi thăng trầm của kiếp người, thăng trầm của kiếp người, đầy bi kịch và bi hài của con người. sự sống. .

Một tài năng sáng tạo trong mỹ thuật, hội họa, thơ ca

Ngay từ nhỏ, Hòa thượng Thích Trí Hải đã tỏ ra là một người thông minh xuất chúng qua công việc và học tập hàng ngày, luôn năng động và sáng tạo. Người làng Tế Xuyên ngày nay vẫn truyền nhau câu chuyện về thầy Thảo. Chuyện kể rằng: “Một hôm trời nắng nóng, người dân địa phương phải ăn ngoài trời, vừa ăn vừa ngắm trăng sao mát mẻ sau một ngày làm việc mệt mỏi. Đột nhiên, mọi người phát hiện trên không trung có vài ngọn đèn lơ lửng, trong thôn thông báo tin tức rất nhanh, mọi người cùng nhau xem và bàn luận, có người cho rằng thần linh hiện ra là điềm lành, có người cho rằng ma quỷ xuất hiện. Trong lúc mọi người đang nói chuyện thì bất ngờ một mái tôn gần đó bất ngờ bốc cháy, tất cả hô hoán nhau kêu cứu. Họ phát hiện ra khung của một chiếc đèn tre giống như một chiếc đèn kéo quân và giấy làm nó. Với những dòng chữ Nho, loại giấy này vốn chỉ có ở các chùa nên mọi nghi vấn dần được giải đáp. Người xưa kết luận vụ cháy nhà này là do “chú Thảo” chơi game nên bắt đền. Giáo chủ đã ra lệnh họp Tăng đoàn để điều tra sự việc, và “chú Thảo” đã đứng ra nhận lỗi do việc thả “đèn trời” gây ra. Ngoài ra, Hòa thượng còn bày ra rất nhiều trò chơi với đất, bằng gỗ,… để khuyến khích lũ trẻ chăn trâu đương thời vào chùa.

Bạn Đang Xem: Đại lão Hòa thượng Thích Trí Hải

Trong những năm tu học tại Tổ đình Tế Xuyên, Hòa thượng đã truyền đạt lời Phật dạy qua bài thơ lục bát để bà con phật tử trong thôn tu học mỗi khi đến chùa lễ Phật. Vì vậy, ngày nay mọi người còn nhớ rất nhiều bài thơ do Hòa thượng viết để giảng dạy cho Phật tử theo phương thức truyền khẩu, dễ nhớ, dễ thuộc. Hòa thượng Thích Trí Hải rất có tài vẽ chân dung. Theo Hòa thượng Thích Tâm An, hình tượng Tổ sư Phổ Từ thờ tại Tổ đình Tế Xuyên do Hòa thượng Trí Hải trực tiếp vẽ với sự tán thán chính xác của nhiều người đương thời. Hòa thượng Thích Trí Hải cũng là một chuyên gia về kiến ​​trúc mỹ thuật. Ngôi Đại Hùng của chùa Quán Sứ ngày nay là hình mẫu do Hòa thượng vẽ cho các kiến ​​trúc sư thực hiện.

Một nhà sư kiên trì với mục tiêu chấn hưng Phật giáo ở đất nước của mình

Mới 19 tuổi, còn đang là người tập sự dưới cửa Thiền, nhìn vào thực trạng đau thương của đạo Phật, thầy Trí Hải đã ôm ấp hoài bão chấn hưng Phật giáo, đưa Phật giáo Việt Nam trở thành chính đạo, đem lại lợi ích thiết thực cho con người. ngay tại đây và ngay bây giờ. Để hoàn thành tâm nguyện chấn hưng Phật giáo, ông đã phải vượt qua vô số khó khăn, gian khổ, kể cả những thất bại. Nhưng “cũng giống như con cá sông bị đẩy ngược dòng càng cố gắng tiến về phía trước, vậy những kẻ có hoài bão lớn lao mà mất nhau, mất nhau thì có khó không?”. Hòa thượng không nản lòng và xác định hướng đi đúng đắn là gắn với cư sĩ. Nhờ đông đảo cư sĩ, có tâm có tài, có đức, đoàn kết gắn bó với chư Tăng, cuối năm 1934, Tổng hội Phật giáo Bắc Kỳ được thành lập, có tiếng vang trong việc chấn hưng Phật giáo ở khắp ba miền trên thế giới. Nước như hoa đẹp tỏa hương, cây khỏe thì quả ngọt.

Năm 1951, Tổng hội Phật giáo Việt Nam được thành lập tại Huế, Hòa thượng được suy cử làm Phó Hội trưởng Tổng hội.

Năm 1952, GHPGVN được thành lập, Hòa thượng làm Trưởng ban Trị sự. Khi đó anh mới 46 tuổi. Ông không chỉ hết lòng giúp đạo mà còn tha thiết đóng góp cho thế giới thông qua các công việc từ thiện như nuôi trẻ mồ côi, cứu đói năm 1945 – nạn đói khủng khiếp nhất trong lịch sử Việt Nam. Vì vậy khi Chính phủ lâm thời được thành lập, Hòa thượng được mời làm cố vấn cho ông Nguyễn Văn Tố – Bộ trưởng Bộ An sinh xã hội đầu tiên của nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa.

Hòa thượng Thích Trí Hải

Xem Thêm : 3 đặc đểm của người phước mỏng nghiệp dày

Năm 1954, đất nước bị chia cắt theo Hiệp định Giơnevơ, Hòa thượng quyết tâm ở lại miền Bắc cùng đồng bào, tín đồ, xây dựng chùa Phật tích tại Hải Phòng và như nhân duyên “Cái này có, cái kia có”, Hòa thượng đã gắn bó với ngôi chùa này và Phật giáo Hải Phòng đến hết cuộc đời. Dù nhân duyên không cho phép, trải qua bao nhiêu áp bức, ông vẫn đóng góp ý kiến ​​cho sự nghiệp to lớn thống nhất Phật giáo.

Nhà văn hóa Phật giáo lớn

Với hơn 200 bài báo đăng trên các báo Dốc Tuệ, Tịnh Tiến, Phương Tiên và hơn 40 tác phẩm, bản dịch, đã đủ nâng Hòa thượng Thích Trí Hải lên vị trí một trong những nhà văn hóa lớn. những nhân vật của Phật giáo Việt Nam trong thời đại hiện nay. cận hiện đại. Bằng thể thơ lục bát, song thất lục bát v.v …, ông đã diễn giải một cách khéo léo những lời dạy của Đức Phật và đạo đức Phật giáo như Tâm chúng sinh, Sự tích Đức Phật Thích Ca, Ngụ ngôn Đức Phật, Giáo dục gia đình .. .để người đọc dễ hiểu, dễ tiếp thu và tự giác làm theo. Hồi ký thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam của ông là cuốn hồi ký lịch sử quý giá duy nhất trong thư tịch Phật giáo Việt Nam, giúp người đời sau hiểu rõ hơn về công cuộc chấn hưng Phật giáo ở phương Bắc qua con sông. Ngòi bút xác thực của một nhân chứng lịch sử. Phật Giáo Tổng Hợp, Phật Giáo Việt Nam và Vấn Đáp Phật Giáo là những tác phẩm thể hiện tâm huyết xây dựng một nền Phật giáo nhập thế trên đất nước của Hòa thượng Trí Hải. Các bản dịch của ông theo yêu cầu của Viện Triết học cách đây 30 – 40 năm như: Chìa khóa lục bát, Phật học triết học, Trúc Lâm tông, là những tài liệu quý cho những ai nghiên cứu triết học Phật giáo. .

Một tình bạn trung thành và trung thành

Hòa thượng Thích Bảo Nghiêm cho biết: Năm 1977, Hòa thượng Tố Liên viên tịch, để tỏ lòng thành kính với người bạn, người đồng chí trong phong trào chấn hưng Phật giáo, Hòa thượng Thích Trí Hải đã đạp xe hơn 130km từ TP. Hải Phòng đường về chùa Hội Xá, huyện Thường Tín, tỉnh Hà Tây để đảnh lễ Giác linh. Hôm đó chúng tôi may mắn được theo chân Thượng tọa đến chùa Hội Xá, thầy cho biết đạp xe lần này có hai mục đích: một là tỏ lòng thành kính với Sư cô Tố Liên, hai là hồi hướng công đức cho ân nhân. đã tặng chiếc xe đạp này.

Chúng ta không khỏi xúc động và cảm phục trước tình nghĩa thủy chung của anh Trí Hải dành cho cư sĩ Thiều Chửu – Nguyễn Hữu Kha qua những dòng “Nỗi nhớ”:… “Cũng may nhưng cũng xót xa lắm. và tôi rất xin lỗi – không ngờ lại được xem cuốn “Tâm Chỉ Nghiên Cứu” của tác giả Thiều Chửu, cũng do chú Thanh Tuấn chép lại.

Tôi và tác giả là những người bạn cùng tâm, cùng chí, cùng chí hướng cùng nhau chấn hưng Phật giáo nước nhà – tuy chưa lâm bồn nhưng cuối năm 1933, nhiệt độ Hà Nội xuống 7-8 độ. , hai chúng tôi chỉ có một chiếc chiếu với một tấm chăn mỏng (chăn Nam Định) trải trên nền nhà ở phố Sinh Từ (nay là phố Nguyễn Khuyến, Hà Nội), trong thời kỳ thành lập Hội Phật tử đầu tiên. mất.

Chuyển sang lập dòng Phật học, đến ngày rước chùa Quán Sứ, Hà Nội năm 1934, tôi chỉ có bốn hào, nhờ Tam bảo che chở, mười phương báo đáp cho đến khi hội đủ nhà in, trường học, xuất bản sách báo…

Xem Thêm : Niệm Phật mà quên hồi hướng thì có sao không?

Công việc chùa Quán Sứ luôn gặp khó khăn, mãi đến năm 1938 chuyển về Ban Hùng, tiền quyên góp cho chùa chỉ được 6 đồng – công việc cứ thế tiến triển cho đến khi thành tựu, xây thêm nghĩa trang, chùa Tế Độ, Phổ Quang. Trường học, v.v .. như tôi đã trình bày rõ trong tập “Hồi ký việc thành lập Tổng hội Phật giáo Việt Nam” (1934-1958).

Nhận thấy lợi ích của việc giúp những ai muốn hiểu được ý nghĩa “duy tâm” của đạo Phật, cuốn sách này có thể giúp ích một cách dễ dàng mà tôi không ngờ gặp được. Vì tôi và tác giả chia tay nhau từ năm 1946, sau đó tác giả từ giã cõi đời. Về phần chú Thanh Tuấn, khi mới xuất gia về ở với tôi, năm 1946, tôi cho chú theo học, nhưng sau khi theo tiếng gọi của núi rừng trở về tham gia kháng chiến, vừa rồi chú đã hy sinh vì Tổ quốc. . .

Giờ được xem bài làm của bạn, thấy nét chữ đẹp của bạn học sinh, tôi không kìm được xúc động… Tôi không kìm được, không nói hết lời được, tạm ghi lại vài dòng thông cảm ” Cầu nguyện ”(6).

Một tấm gương nhân đức

Đại tá Đinh Thế Hinh, một trong 27 vị sư trụ trì chùa Cổ Lễ, Nam Định đã cởi áo, mặc áo lam năm 1947, người đã nhiều lần gặp gỡ Hòa thượng Trí Hải, viết: “Một điều rất đáng khâm phục là Khả năng ứng xử của ông rất tài tình với mọi chế độ chính trị và mọi chính quyền làm công việc tôn giáo, với ông: “Thiền môn bất biến”, không hợp thời, không thụ động, không tham lam địa vị, danh lợi, tuân thủ mọi luật lệ của địa phương. cũng như các cơ quan chức năng của trung ương, từ một việc rất nhỏ như đăng ký tạm trú ở đâu, khai báo ở đâu, Người đều rất nghiêm túc, chí công vô tư, không ngại khó. Tóm lại, anh sống rất trong sáng, giản dị và cuộc sống khiêm tốn, không chút tì vết mà anh ấy sẽ nhận xét ở ngoài đời… ”.

Khi mới bước chân vào cửa Thiền, Hòa thượng Thích Trí Hải đã ôm trong mình hoài bão chấn hưng Phật giáo và phục vụ chúng sinh, rồi Ngài đã kiên trì theo đuổi và hoàn thành tâm nguyện đó. Ngay cả khi sắp hết báo thân, Ngài vẫn đau đáu nỗi đau của những người thân đang phải chịu trong cảnh lửa đạn, chiến tranh. Nhưng dù ở đâu, anh vẫn luôn sống trong sáng, không tủi thân, không thử thách, thù hận. Điều đó được thể hiện trong Lời Di chúc (Di chúc) của Ngài: “Tôi xin những ai không thích tôi, xin hãy xóa bỏ hận thù, để lòng nhân ái giải thoát, cắt bỏ oan trái để tránh nghiệp báo mai sau”.

Tấm gương đạo đức của Ngài vẫn còn sống mãi trong lòng Đạo pháp và Dân tộc.

Xin được thắp nến tri ân trước cố Đại lão Hòa thượng Thích Trí Hải nhân kỷ niệm 30 năm ngày mất của Ngài với tất cả lòng thành kính, ngưỡng mộ của đấng sinh thành.

Nguồn: http://luanvan247.net
Danh mục: Đạo làm người

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button