Tác giả

Knut Hamsun – nhà khai sáng nền văn xuôi hiện đại

Knut Hamsun (4/8/1859 – 19/2/1952) được trao giải Nobel Văn Học năm 1920 nhờ tác phẩm đồ sộ “Nhựa của đất” viết về những người nông dân Na Uy gắn bó hàng đời với đất đai, trung thành với những truyền thống cổ xưa. Với những trang văn xuôi mang tính “chủ quan”, với chất trữ tình, sự phá vỡ trật tự hành động và văn phong tinh tế, nhạy cảm mang chất thơ thuần khiết nhất, K. Hamsun được coi là nhà khai sáng nền văn xuôi hiện đại.

Xem Thêm : Phạm Văn Ngôn, người chí sĩ yêu nước giỏi văn chương

Xem thêm: Romain Rolland, nhà văn của đức tính chân thực và lòng vị tha

Knut Hamsun
Knut Hamsun (4/8/1859 – 19/2/1952)

Tiểu sử

Knut Hamsun (tên thật là Knut Pedersen) xuất thân trong một gia đình nông dân nghèo có sáu con ở miền Trung Na Uy. Năm lên ba, K. Hamsun đã phải theo cha mẹ đi làm tá điền cho một ông chú bên ngoại; lên chín tuổi, đi ở cho chú, bị chú đánh đập, bỏ đói, phải bỏ trốn, rồi sống cuộc đời lang thang, làm nhiều nghề như bán hàng rong, phụ thợ giầy… K. Hamsun bắt đầu viết văn từ năm 1877, nhưng suốt hơn 10 năm không được dư luận để ý. Trong thời gian này ông sang Mỹ hai lần, tìm mọi cách để kiếm kế sinh nhai, bị bệnh lao và năm 1890 lại phải về nước. Sau đó, ông viết tiểu thuyết Đói (Sult,1890) kể về những đau khổ của một nhà văn đói rét với lối văn mang màu sắc tự nhiên chủ nghĩa, tác phẩm trở nên nổi tiếng không chỉ ở Scandinavia mà cả nhiều nước phương Tây khác. Ông chịu ảnh hưởng của Dostoievski, Nietzsche và Byron, phủ nhận lối sống của chủ nghĩa tư bản hiện đại, đề cao tính chất thần bí của tâm hồn, ca ngợi chủ nghĩa điền viên cổ sơ. Tất cả đều xuất phát từ động cơ phi lí tính. Đây cũng là nguyên nhân khiến ông hợp tác với chủ nghĩa phát xít Đức trong Thế chiến II và bị xử tội phản quốc khi chiến tranh kết thúc. Ngoài hàng loạt tiểu thuyết được sáng tác đều đặn, K. Hamsun còn viết kịch, từ 1895 đến 1898, ông hoàn thành bộ ba Nơi cổng vương quốc (Ved Rigets Port), Trò đời (Livets Spil), Hoàng hôn (Slutningspil ), tuy nhiên không thành công lắm. Phần lớn thơ K. Hamsun sáng tác đều bị chính ông đốt khi chưa in nhưng năm 1904 ông đã công bố tập Bản hợp xướng hoang dã (Det vilde Kor) có thể sánh với những tác phẩm văn xuôi hay nhất của ông.

Hamsun là nhà văn làm đổi mới văn xuôi Na Uy và là người luôn cố gắng thể hiện đời sống tâm hồn vô thức. Tác phẩm Nhựa của đất (Markens Grøde,1917), kêu gọi trở về với ruộng đồng, đã mang lại cho ông Giải Nobel năm 1920. Trong bài phát biểu tại lễ trao giải, đại diện Viện Hàn lâm Thụy Điển nói: “Những ai muốn tìm trong văn học sự mô tả chân thật hiện thực đều tìm thấy trong Nhựa của đất câu chuyện về cuộc đời của mỗi một con người, dù anh ta ở nơi đâu, lao động ở nơi đâu”.

Năm 1918, K. Hamsun mua một trang trại ở miền Nam Na Uy, sống tại đây, vừa viết văn vừa làm ruộng vườn. Nhưng càng về sau, tư tưởng của K. Hamsun càng trở nên phản động. Năm 1934, ông công khai ủng hộ chủ nghĩa quốc xã; ông đã gặp Hitler tại Đức và bị hàng ngàn độc giả trả lại sách để phản đối. Cuối chiến tranh, ông và vợ bị bắt và xử phạt gần 80.000 USD (năm 1947) nhưng không phải ngồi tù vì ông đang bị bệnh tâm thần. Mặc dù vậy, dư luận xã hội Na Uy và thế giới có thái độ phân biệt rõ ràng giữa lập trường chính trị của ông trong những năm chiến tranh và di sản văn học quý giá mà ông để lại cho thế hệ sau.

Đánh giá của Viện Hàn lâm Thụy Điển(1):

Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển
Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển – Wikipedia tiếng Việt

Căn cứ vào các qui chế của Quỹ Nobel, Viện Hàn lâm Thụy Điển đã trao Giải Nobel văn chương năm 1920 cho nhà tiểu thuyết người Na Uy – Knut Hamsun, với tác phẩm Nhựa của đất (Markens Grøde, 1917). Sẽ là thừa nếu đưa ra một tường  trình chi tiết về quyển sách mà chỉ trong một thời gian ngắn đã được phổ biến rộng rãi khắp mọi nơi, cả bằng nguyên tác và bản dịch.

Qua sự độc đáo về cốt truyện và phong cách, cuốn tiểu thuyết đã dấy nên sự quan tâm vô cùng sống động ở nhiều nước và được tiếp nhận nồng nhiệt bởi nhiều tầng lớp độc giả khác nhau. Mới đây, một nhà điểm sách hàng đầu và bảo thủ người Anh đã viết rằng quyển sách này chỉ mới xuất hiện ở Anh năm nay nhưng đã được dư luận ngợi khen là một kiệt tác. Lý do của thành công không thể phủ nhận này chắc chắn sẽ thu hút sự chú ý của giới phê bình văn học trong một thời gian dài nhưng ngay từ bây giờ, với những ấn tượng đầu tiên, thiết tưởng  cần chỉ ra những lý do ấy, ít nhất là những nét chính.

Bất chấp những ý kiến hiện nay về thời đại chúng ta, những ai cho rằng trong văn học, cái cao hơn tất cả là sự tái hiện trung thành hiện thực thì sẽ thấy trong Nhựa của đất, sự tái hiện một cuộc sống là cơ sở cho sự tồn tại và phát triển của bất cứ xã hội nào nơi con người sinh sống và tạo dựng. Những miêu tả này không bị bóp méo bởi bất cứ hoài niệm nào về một quá khứ văn minh lâu dài. Hiệu quả tức thì ở chỗ khơi lên cuộc đấu tranh gay gắt ngay từ đầu giữa con người tích cực (dĩ nhiên trong những điều kiện bên ngoài khác nhau) bền bỉ chống lại một thiên nhiên bất phục và khắc nghiệt. Khó lòng hình dung sự đối lập nào choáng ngợp hơn giữa cuốn sách này với những tác phẩm thường được gọi là “cổ điển”.

Tuy nhiên, ta vẫn có thể gọi tác phẩm này một cách chính tắc là cổ điển, nhưng theo nghĩa sâu xa hơn, nếu ta dùng tính ngữ này thể hiện một điều gì đó khác hơn và nhiều hơn một lời ngợi khen mơ hồ. Cái cổ điển trong nền văn hóa mà chúng ta thừa kế từ xa xưa chỉ phần nào là cái hoàn thiện buộc ta bắt chước, còn phần nhiều là những gì có ý nghĩa, được rút ra trực tiếp từ đời sống và tái hiện dưới dạng một giá trị bền vững với cả các thời đại sau. Theo ý niệm này, những gì không có ý nghĩa, những gì tự chúng không quan trọng, chỉ có thể xem như cùng một loại với những gì được chính thức coi là tạm bợ hay khiếm khuyết. Nhưng ngoài ra, bất cứ điều gì quý giá trong cuộc sống con người, dù có vẻ bình thường, đều có thể xếp vào cùng một phạm trù với cái khác thường và cái sáng láng, với một ý nghĩa và dạng thức giá trị tương đương, chừng nào nó được hiển bày lần đầu tiên trong ánh sáng đích thực của nó. Với ý nghĩa này, không hề nói quá nếu cho rằng trong Nhựa của đất, Hamsun đã mang đến cho thời đại chúng ta cái cổ điển có thể so với cái đẹp nhất mà chúng ta từng có. Trong khía cạnh này, cái cổ xưa không có đặc quyền bất khả xâm phạm đối với các thế hệ sau, vì cuộc sống luôn luôn mới, phong phú vô tận và có thể được tái hiện dưới những hình thức mới bởi những thiên tài mới.

Tác phẩm của Hamsun là một bản hùng ca về lao động, trong đó tác giả nói về lao động bằng những áng thơ hoành tráng. Đây không phải là chuyện phân công lao động vốn chia rẽ những con người mà là chuyện lao động cần cù, tập trung, thứ lao động mà trong hình thức thuần khiết nhất của mình tạo nên toàn bộ con người, xoa dịu và mang lại gần nhau những tâm hồn chia cách, bảo vệ và gia tăng thành quả của mình trong một quá trình đều đặn và liên tục. Sức lao động của người tiên phong và người nông dân đầu tiên, với tất cả những khó khăn, dưới ngòi bút của nhà thơ, mang tính cách một cuộc đấu tranh anh hùng không hề thua kém chút nào so với cái vĩ đại của sự hi sinh lẫm liệt cho tổ quốc và chiến hữu. Cũng như nhà thơ nông dân Hesiod miêu tả lao động trên đồng ruộng, Hamsun đặt lên hàng đầu trong tác phẩm người lao động lí tưởng, người hiến trọn cuộc đời và sức lực mình cho việc vỡ đất và vượt qua những trở ngại mà con người và thiên nhiên dựng lên để chống lại anh. Nếu Hamsun đã vứt bỏ sau lưng mọi hoài niệm nặng nề về văn minh thì tác phẩm của ông cống hiến một cách hiểu chính xác về nền văn hóa mới mà kỉ nguyên chúng ta đang chờ đợi sẽ nảy sinh từ tiến trình lao động chân tay như một sự tiếp nối nền văn minh cổ xưa.

Hamsun không đưa ra cái gọi là “loại hình nhân vật” trên sân khấu của ông. Các nhân vật nam và nữ của ông đều sống động, ngay cả trong những tình huống khiêm nhường nhất. Vài người trong số họ, những người tốt nhất, có những mục tiêu và tư tưởng mà chúng ta không thể hình dung, ví dụ nổi bật là nhân vật chính, người nông dân trầm lặng và lao động không mệt mỏi. Những người khác thì buông xuôi phó mặc, bất an và thậm chí hoang mang bởi những khát vọng ích kỉ và ý nghĩ xuẩn ngốc. Tất cả họ đều mang dấu ấn của dòng máu Na Uy, tất cả đều bị nhào nặn bởi những “quả của đất”. Một trong những đặc tính của các ngôn ngữ cùng gia đình Scandinavie chúng ta, đó là cùng một từ biểu thị những sắc thái ý nghĩa rất khác nhau thông qua những hình ảnh mà chúng gợi nên. Khi người Thụy Điển chúng ta nói “quả của đất”, ta nghĩ ngay đến một thứ gì đó màu mỡ, dồi dào, ngon lành, nhất là ở một vùng nông nghiệp nào đó đã được canh tác lâu đời. Tư duy trong tác phẩm của Hamsun không đi theo chiều hướng này. “Đất” ở đây là một vùng đất hoang sơ hung hiểm, gồ ghề sỏi đá. Trái quả của nó không tự rơi xuống như là lộc của trời, trái quả của nó là tất cả những gì có thể nảy mầm và lớn lên trên một mảnh đất khô cằn, dù tốt hay dở, đẹp hay xấu, giữa con người hay động vật cũng như trong rừng hay trên đồng ruộng. Đây là những loại quả mà tác phẩm của Hamsun mang lại cho mùa gặt của chúng ta.

Tuy nhiên, người Thụy Điển chúng ta, hay ít nhất là nhiều người Thụy Điển không cảm thấy xa lạ về những phong tục, tập quán được miêu tả ở đây. Ta phát hiện nơi đây, bầu không khí miền Bắc với một phần hoàn cảnh tự nhiên và xã hội, với nhiều điểm tương đồng hai phía biên giới (giữa Na Uy và Thụy Điển, ND). Hơn nữa, Hamsun cũng miêu tả những người Thụy Điển bị lôi cuốn đến vùng đất mới khai phá và hầu hết bọn họ, không nghi ngờ gì nữa, đều bị hấp dẫn bởi ảo ảnh về thành công kinh tế, bởi những thành phố dọc theo bờ biển Na Uy xuất hiện nơi chân trời như cám dỗ về cuộc sống trần thế huy hoàng. Nó quyến rũ những trái tim dễ xiêu lòng muốn thoát khỏi cảnh lao động nặng nhọc của vùng đất này.

Những tái hiện tâm lí đó, cũng như nhiều tái hiện khác, đầy tính người, hoàn toàn không làm giảm mà càng củng cố thêm ấn tượng  nhờ nội dung mang tính cổ điển của câu chuyện. Chúng xua đi nỗi sợ có thể nảy sinh trong ta khi nhìn thấy ánh sáng chân lí với cái giá phải trả là sự thật. Chúng đảm bảo tính chân thực trong từng chi tiết của hình ảnh và nhân vật. Tính toàn nhân loại của chúng không bỏ sót một ai. Bằng chứng là tác phẩm đã được đón nhận bởi những người có tính cách, ngôn ngữ và phong tục khác nhau. Hơn nữa, bằng nụ cười hài hước nhẹ nhàng khi tái hiện những sự việc đau buồn nhất, tác giả chứng tỏ lòng cảm thông đối với số phận con người và bản tính con người. Nhưng trong câu chuyện, ông không bao giờ xa rời sự trong sáng nghệ thuật toàn bích nhất. Phong cách của ông loại bỏ mọi trang trí màu mè, chỉ tập trung vào tính chân thực và sự rõ ràng và người đọc có thể phát hiện trong đó, dưới một hình thức độc đáo và mạnh mẽ, tất cả sự phong phú về sắc thái trong ngôn ngữ mẹ đẻ của nhà văn.

Thưa Ngài Knut Hamsun! Khi đương đầu với thời tiết khắc nghiệt cũng như nỗi mệt mỏi sau chuyến đi dài – mà trong thời gian này lại càng thêm bội phần cực nhọc – để đến nhận giải thuởng trao tặng cho Ngài, Ngài đã mang lại niềm vui lớn cho Viện Hàn lâm Thụy Điển, niềm vui nhất định sẽ được chia sẻ bởi tất cả mọi người có mặt trong buổi lễ trọng đại này. Thay mặt Viện Hàn lâm, trong khoảng thời gian ngắn ngủi cho phép, tôi đã cố gắng trình bày ít nhất những lý do chính tại sao chúng tôi đánh giá cao tác phẩm vừa được đăng quang của Ngài như vậy. Vì vậy, giờ đây, với tư cách cá nhân, tôi không muốn nhắc lại với Ngài những gì tôi đã nói. Tôi chỉ còn mỗi việc thay mặt Viện Hàn lâm chúc mừng Ngài và hi vọng Ngài sẽ giữ mãi những kỉ niệm về cuộc gặp gỡ của chúng ta và đó sẽ là mối dây thắt chặt mối quan hệ giữa Ngài với chúng tôi trong tương lai.

Quan điểm của Knut Hamsun(2):

Tôi biết làm gì đây trước một sự hào hiệp tràn đầy như vậy, quý hóa như vậy? Chân tôi không còn đứng vững trên mặt đất nữa, tôi như đang đi trên không, đầu óc tôi quay cuồng. Lúc này đây, trấn tĩnh được không phải dễ. Tôi đã có cả vinh dự và tiền bạc đến với tôi hôm nay. Tôi vẫn là tôi nhưng trong lòng tràn ngập tình cảm ngưỡng mộ đối với đất nước tôi, tràn ngập giai điệu quốc ca nước tôi vừa mới vang lên trong phòng này một phút trước đây.

Chắc chắn đây không phải là lần đầu tiên lòng tôi trào dâng cảm xúc. Vào thuở hoa niên,  tôi cũng đã từng có những dịp như vậy, trong đời người thanh niên nào mà chẳng có chúng? Vâng, những con người trẻ tuổi duy nhất xa lạ với tình trạng đó là những kẻ bảo thủ, mới sinh ra đã già, những kẻ không biết đến ý nghĩ của cảm xúc lâng lâng. Không có số phận nào giáng xuống đầu một người đàn ông hay đàn bà tồi tệ hơn là trở nên già trước tuổi, khư khư bám lấy lí trí khôn ngoan và thói phủ nhận. Có trời biết được còn có bao nhiêu cơ hội về sau trong đời, để mà có cảm xúc lâng lâng. Thế thì đã sao nào? Chúng ta vẫn là chúng ta, tất nhiên, và điều đó rất tốt đối với chúng ta!

Tuy nhiên, tôi không nên sa đà vào sự thông thái thô thiển ở đây trước một cử tọa ưu tú như vậy, nhất là sau tôi sẽ đến lượt một vị đại diện của khoa học. Tôi sẽ ngồi xuống ngay đây thôi, nhưng hôm nay là một ngày trọng đại đối với tôi. Tôi đã được may mắn  chọn lựa ra từ hàng ngàn con người và được đội vòng nguyệt quế! Thay mặt cho đất nước mình, tôi cảm ơn Viện Hàn lâm Thụy Điển và những con người Thụy Điển về vinh dự mà họ đã dành cho tôi. Cá nhân tôi cúi đầu ngưỡng mộ sức nặng của những trọng vọng lớn lao như vậy nhưng tôi cũng tự hào rằng Viện Hàn lâm của các bạn đã phán định  đôi vai tôi đủ khỏe để mang chúng.

Một diễn giả ưu tú tối nay đã nói rằng tôi có lối viết của riêng tôi và có lẽ tôi xác nhận điều này cũng là quá nhiều. Tuy nhiên, tôi đã học điều này điều nọ ở mọi người; liệu có người nào lại không học ở mọi người một chút? Tôi có nhiều điều để học từ thơ ca Thụy Điển và nhất là từ thơ trữ tình Thụy Điển của thế hệ gần đây nhất. Giá như tôi thân thiết hơn với văn chương và những tên tuổi lớn của nó, tôi có thể trích dẫn họ ad infinitum(3) và thừa nhận món nợ của tôi đối với giá trị mà các bạn đã đủ hào hiệp để tìm thấy trong tác phẩm của tôi. Tuy nhiên, xuất phát từ một người như tôi, điều này sẽ chỉ là sự bỏ sót các tên tuổi, là những hiệu ứng âm thanh đơn điệu không có những nốt nhạc trầm đệm cho. Tôi không còn trẻ nữa để làm việc này; tôi không còn có sức.

Vâng, điều mà tôi muốn làm ngay lúc này, trong ánh đèn chói lọi, trước các cử tọa xuất sắc này, là rắc như mưa xuống mọi người ngồi đây nào quà, nào hoa, nào lễ vật thơ ca – được trẻ lại một lần nữa, được cưỡi trên đỉnh sóng. Đó là điều mà tôi muốn thực hiện nhân dịp trọng đại này, nhân cơ hội cuối cùng này cho tôi. Tôi không dám làm điều đó vì sẽ không tránh khỏi trở thành trò cười. Hôm nay, tiền bạc và vinh dự đã ào ào đổ xuống tôi nhưng còn thiếu một món quà, món quà quan trọng hơn tất cả mọi thứ, món quà duy nhất có ý nghĩa: món quà tuổi trẻ. Không ai trong chúng ta già đến nỗi không nhớ tới nó. Điều nên làm đối với những người đã già như chúng ta là bước lùi lại một bước và thực hiện điều đó với phẩm giá và vẻ thanh nhã.

Tôi không biết phải làm gì – tôi không biết làm gì là đúng nhất bây giờ nhưng tôi xin nâng cốc vì sức trẻ Thụy Điển, vì những người trẻ tuổi ở khắp nơi, vì tất cả những gì là trẻ trung trong đời.

Tác phẩm của Knut Hamsun:

Con người bí ẩn (Den gaadefulde, 1877), tiểu thuyết.

– Bjorger (1878), tiểu thuyết.

– Cuộc sống tinh thần của xã hội Mỹ hiện đại (Fra det moderne Amerikas Sandsliv, 1889), tiểu luận [The Intellectual Life of Modern America].

– Đói (Sult, 1890), tiểu thuyết [Hunger].

– Từ cuộc sống vô thức của tâm hồn (Fra det ubevidste sjaceleliv, 1890), tiểu luận.

– Những điều bí ẩn (Mysterier, 1892), tiểu thuyết.

– Biên tập viên Linge (Redactứr Linge, 1893).

– Đất mới (Ny jord, hoàn tất năm 1893).

– Quý ngài (Pan, 1894), tiểu thuyết.

– Nơi cổng vương quốc (Ved rigets port, 1895), kịch.

– Trò đời (Livets spil, 1896) [Game of Life].

– Hoàng hôn (Aftenrode, 1898), kịch [Sunset].

– Victoria (Victoria, 1898), tiểu thuyết.

– Munken Vendt (1902), kịch thơ.

– Bản hợp xướng hoang dã (Det vilde kor, 1904), thơ [The Wild Chorus].

– Dưới ngôi sao mùa thu (Under hoststjernen, 1906), tiểu thuyết [Under the Autumn Star].

– Benoni (1908), tiểu thuyết.

– Kẻ lang thang chơi đàn không dây (En vandrer spiller med sordin, 1909), tiểu thuyết [A Wanderer Plays on Muted Strings].

– Niềm vui cuối cùng (Den sidste glổde, 1912), tiểu thuyết.

– Những đứa con của thế kỷ (Bứrn av tiden, 1913), tiểu thuyết [Children of the Age].

– Thị trấn Segelfoss (Segelfossby, 1915), tiểu thuyết [Segelfoss Town].

– Nhựa của đất (Markens Grøde, 1917), tiểu thuyết [Growth of the Soil].

– Những người đàn bà bên giếng (Konerne ved vandposten, 1920), tiểu thuyết.

– Chương cuối (Siste kapitel, 1923), tiểu thuyết.

– Những kẻ lang thang (Landstrykere, 1927), tiểu thuyết bộ ba, quyển 1 [Vagabonds]; Tháng Tám (August, 1930), quyển 2; Cuộc sống vẫn đi (Men livet lever, 1933), quyển 3 [The Road Leads on].

Vòng đã khép (Ringen sluttet, 1936), tiểu thuyết [The Ring is Closed].

– Theo lối mòn hoang (Pọ gjengrodde stier, 1949).

* Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt:

– Tiểu thư Victoria (nguyên tác: Victoria, tiểu thuyết), Đào Minh Hiệp dịch, Sở Văn hóa – Thông tin Phú Khánh, 1989.

– Đói, gồm 2 tiểu thuyết: Đói (Sult) và Tiểu thư Victoria (Victoria), Thái Bá Tân dịch, Nxb Lao động, 1994.

– Cái giá của tình yêu, Thái Bá Tân dịch, Nxb Lao động – Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây, 2002.

– Những kẻ nô lệ ái tình, Dương Tường dịch, in trong Truyện ngắn chọn lọc – tác giả đoạt Giải Nobel, Nxb Hội Nhà văn, 1998; Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt Giải Nobel, Nxb Hội Nhà văn, 2004.

– Tiếng gọi của sự sống (truyện ngắn), Ngô Tự Lập dịch, in trong Đôi mắt lụa, Nxb Văn học, 1998; 100 truyện ngắn hay thế giới, Nxb Hội Nhà văn, 1999.

Tiếng gọi đời thường, Phạm Viêm Phương dịch, in trong Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt Giải Nobel, Nxb Hội Nhà văn, 2004; Truyện ngắn hay thế giới, Nxb Thanh Hóa, 2004.

Nô lệ của tình yêu, Đào Minh Hiệp dịch, in trong Truyện ngắn đặc sắc các tác giả được giải thưởng Nobel, Nxb Văn học, 2004.

Nguyễn Việt Long, Anh Trần Tiễn, Cao Đăng và Tân Đôn dịch từ bản tiếng Anh
(Nguồn: http://nobelprize.org)

Ghi chú:

(1) Do Harald Hjọrne, Chủ tịch ủy ban Nobel Viện Hàn lâm Thụy Điển đọc.

(2) K. Hamsun đọc trong tiệc chiêu đãi giải thưởng Nobel ngày 10/12/1920 tại Grand Hotel (Stockholm).

(3) Tiếng Latinh: một cách vô cùng tận.

Nguồn: http://luanvan247.net
Danh mục: Tác giả

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button