Ca dao tục ngữ

Bình giảng bài thơ Côn Sơn ca

Nguyễn Trãi – nhà văn hóa lớn của dân tộc, nhà thơ, nhà văn chính luận kiệt xuất. Ông không chỉ là một con người nghệ thuật, ông còn là một mẫu người liêm khiết, tiếc rằng trên đời không có nơi nào dành cho những người quá lương thiện như Nguyễn Trãi. Trước thực tế ngổn ngang, Nguyễn Trãi trở về ở ẩn, hòa mình vào thiên nhiên thanh bình, ngày ngày ngâm thơ, thưởng trăng. “Chim họa mi”Ra đời vào thời điểm Nguyễn Trãi chán ghét chốn quan trường hiểm trở, trở về với thiên nhiên thanh bình. Bài thơ thể hiện một tâm hồn yêu thiên nhiên, quê hương đất nước.

Bình giảng bài thơ Côn Sơn Ca - Nguyễn Trãi

Cảnh đẹp thiên nhiên Côn Sơn

Côn Sơn là một trong những địa danh nổi tiếng của Việt Nam, gắn liền với những sự kiện trọng đại của đất nước, cũng như gắn liền với những tên tuổi lớn trong lịch sử, trong đó có Nguyễn Trãi. Thiên nhiên ở Côn Sơn nổi tiếng với vẻ đẹp bao la, nơi bao người tìm về chốn bình yên cũng như là nguồn cảm hứng của nhiều bài thơ:

Bạn Đang Xem: Bình giảng bài thơ Côn Sơn ca

Khí thiêng sông núi vút tận trời xanh.

Dòng suối chảy quanh vùng nước ngập

Đời bạc non phơi nắng

Côn Sơn suối mát ngàn sao – Phạm Đình Nhân

Nhưng chỉ đến khi Nguyễn Trãi đưa vẻ đẹp của nơi đây vào thơ mình thì Côn Sơn trong thơ ông mới mang đầy đủ màu sắc, hình dáng, lột tả chân thực nhất vẻ thanh bình nơi đây:

Côn Sơn suối chảy róc rách,

Tôi nghe nó như đàn hạc trong tai.

Đoạn đầu tả cảnh rừng núi Côn Sơn và qua đó là sự giao hòa, tương thích giữa thiên nhiên và con người, ở đây là tác giả, với tư cách là nhân vật trữ tình của chủ thể. Tiếng suối réo rắt tiếng đàn. Đó là âm thanh sâu lắng của núi rừng, của suối reo, ngân vang tận trời. Nhà thơ đã so sánh tiếng suối với tiếng đàn, để tuyệt đối hoá âm thanh tuyệt diệu của mẹ thiên nhiên, một âm thanh trong trẻo và đẹp đẽ như tiếng đàn. Bài thơ gợi cảm giác da diết, êm đềm, du dương. Vừa là hình ảnh thiên nhiên, vừa ẩn chứa hình ảnh con người. Chọn tiếng suối làm hình ảnh đầu tiên khi miêu tả Côn Sơn, tác giả muốn làm nổi bật cái làm nên vẻ đẹp của thiên nhiên nơi đây chính là âm thanh trong suốt. Tiếng đàn thể hiện cảm xúc, tâm trạng của người nghệ sĩ, Tả tiếng suối với tiếng đàn là một cách miêu tả rất độc đáo, ta có cảm giác nhân vật trữ tình đang say mê thưởng thức âm thanh ấy như đang thưởng thức nghệ thuật. Nghệ thuật tuyệt đỉnh của mẹ thiên nhiên.

Đang miêu tả chuyển động, nhà thơ đột ngột chuyển sang tĩnh lặng:

Côn Sơn có đá rêu

Tôi ngồi trên tảng đá như một tấm đệm êm ái.

Đá và suối là hai vật thể không thể tách rời. Những tảng đá làm cho dòng suối trở nên mạnh mẽ và hoang sơ. Nhà thơ hướng tầm mắt về những tảng đá cổ kính phủ đầy rêu phong, trong con mắt của nhà thơ những gì bình thường nhất cũng được nghệ thuật hóa. Anh cảm nhận viên đá qua màu rêu đã trải qua bao nắng mưa bao ngày tháng, mang dáng dấp của dòng chảy thời gian trên từng viên đá. Nguyễn Trãi “ngồi tựa đá như chiếu mềm”. Một lần nữa, một nghệ thuật so sánh rất đặc sắc, đưa thiên nhiên đến rất gần. Côn Sơn như một ngôi đình lớn, nhưng tấm thảm rêu phong đã trở thành tấm chiếu êm ái cho con người, giúp nhân vật trữ tình thư thái, nghỉ ngơi, viết nên những vần thơ đẹp, mượt mà như cảnh Côn Sơn. Đoạn thơ này vừa gợi tả tình yêu thiên nhiên và tâm hồn cao đẹp của Nguyễn Trãi, một con người có tinh thần lạc quan yêu đời.

Côn Sơn ca là một bức tranh hoàn mỹ, hội tụ đủ yếu tố nhạc và sắc, Nguyễn Trãi không quên trang trí vẽ nên cảnh rừng núi tràn đầy sức sống:

Trong ghềnh thông mọc lên như nêm,

Tìm một nơi râm mát để chúng ta có thể nằm xuống.

Trong rừng có một bóng tre,

Dưới màu xanh mát, ta thong thả ngâm thơ.

Những rặng thông và rặng tre trải dài như vẽ nên một bức tranh tuyệt vời. Màu xanh của rừng mát rượi, che chở cho con người giữa giông bão. Nhà thơ sử dụng biện pháp tu từ so sánh, Thông được so sánh như nêm cho thấy ở Côn Sơn những cây thông ấy quả là nhiều. Phải chăng sự dày đặc của thông đã che chở cho tâm hồn nhà thơ khỏi cát bụi? Núi Côn Sơn còn là nơi ở của những điều cao quý. Không chỉ là tiếng nước trong veo không bám bụi. Nó không chỉ là những mảng rêu tự nhiên, mềm mại. Có cả rừng thông, rừng trúc xanh mướt. Theo quan niệm của người xưa, cây tùng tượng trưng cho người đàn ông lịch lãm, không ngại khó khăn, gian khổ; Kiến trúc tượng trưng cho sự ngay thẳng, chính trực, chọn hai hình ảnh này để miêu tả, nhà thơ muốn ngầm khẳng định tâm hồn mình luôn vì nước vì dân.

Xem Thêm : Chiếc lược ngà – Tình phụ tử thiêng liêng và cao đẹp nhất

Trong bài thơ hiện lên rõ ràng hình ảnh một người, bóng dáng thi nhân đang thưởng ngoạn cảnh đẹp mà ngâm thơ thì thanh thản, thoát khỏi những lo toan bụi trần, đẹp đến khó tin.

Tình cảm của Nguyễn Trãi – tâm trạng của một người con yêu nước bơ vơ trước thế giới loạn lạc.

Nguyễn Du đã từng nói:

Cảnh nào không mặc nỗi buồn

Cảnh buồn có ai vui bao giờ.

Cảnh luôn có người ở nên Côn Sơn Ca không chỉ là bức tranh thiên nhiên đẹp đẽ, thanh bình mà còn chứa đựng tình cảm của một người con yêu nước thương dân, luôn day dứt nỗi đau của những người dân còn nghèo khó. những lo lắng vô tận. Nhà thơ bộc lộ tâm trạng bâng khuâng:

Quay lại, tại sao không sớm,

Nửa đời vướng bụi trần, vì sao?

Chín cái vạc làm gì,

Cơm rau với nước nên tùy phần.

Anh không màng đến những giá trị vật chất, cho rằng đó là cát bụi không nên động đến nên anh cứ để số phận đưa đẩy, đừng cố tranh giành thiệt hơn. Nguyễn Trãi ra làm quan, tài năng không được thể hiện, bị bọn cường thần và triều thần chèn ép. Đã có lúc anh than thở: “Thuộc hạ mặc khổ, tủi nhục”. Đó là tâm trạng của thời đại. Năm 1429, Lê Thái Tổ sát hại hai đại thần là Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo; và Nguyễn Trãi cũng bị tống vào ngục. Sau đó, dù được tha thứ nhưng cô chỉ là nữ thần “tẩy rửa”. Nguyễn Trãi bao năm sống với tâm trạng muốn về Côn Sơn làm bạn với hoa cỏ trong rừng. Những bài thơ thể hiện bi kịch của một người mong muốn giúp đỡ thiên hạ nhưng nay phải từ bỏ sự nghiệp làm quan để bảo vệ thanh danh của mình.

Bài thơ cũng là những triết lý của ông về sự giàu sang, phú quý:

Cơm rau với nước nên tùy phần.

Dong and Nguyen đã để lại tên tuổi của họ trên thế giới,

Hạt tiêu đầy, vàng đầy mười.

Ở đằng kia trên núi Thú San,

Di và Qi nhịn ăn mà không quan tâm đến cơm.

Hai mặt khó so sánh, hiền lành và ngốc nghếch,

Tất cả làm theo ý bạn.

Mượn sự tích xưa (Vạn Chung Cửu Đỉnh) để chỉ vị quan to, ăn lộc ngàn thùng, tức là quan cao sang, vinh hoa, phú quý đã vào hàng bậc nhất rồi. Cửu đỉnh (chín đỉnh), chỉ ngai vàng, có cả thiên hạ trong tay, của cải và quyền lực đều là đỉnh cao… Con người ở đời lao tâm khổ tứ, vào sinh ra tử, chỉ vì sự vật. Cái gọi là “Nghìn lẻ bốn” mà thôi, nhưng rốt cuộc thì có ích gì, khi sự tồn tại của con người là có hạn? Đổng Trác nhà Đông Hán, Viên Tài nhà Đường, đều nắm giữ chức vụ quyền cao, giàu có đến tột cùng, cuối cùng chết trong ô nhục, để lại lưu danh ô uế mãi mãi. Tác giả nhớ lại hành trạng và cái chết của Bá Di, Thúc Tề thời nhà Ân, nhà Chu, từ đó suy ngẫm về những “kẻ hiền lương” ở đời, cuối cùng cũng chỉ là “tất để thỏa lòng mong mỏi”. Những kẻ chỉ biết nghĩ đến bản thân mà không lo lắng cho thiên hạ, thì cuối cùng sẽ mang tiếng xấu.

Nguyễn Trãi đã phê phán mạnh mẽ lòng tham của bọn quan lại, lòng tham tiền bạc, đồng thời bày tỏ thái độ thất vọng với chế độ đã không lo được cuộc sống ấm no cho nhân dân. Nhà thơ gửi gắm nhiều triết lý nhân sinh trong bài thơ, những triết lý rút ra từ cuộc đời nhiều thăng trầm của nhà thơ:

Xem Thêm : Tiểu sử cuộc đời và sự nghiệp sáng tác

Một trăm năm trong cuộc đời con người,

Con người như cỏ cây, thân tàn ma dại.

Từ niềm vui đến nỗi buồn,

Những điều tốt đẹp héo, chu kỳ thay đổi.

Núi và đồi ở đây và ở đó,

Đâu ai biết được ngày tủi nhục chết chóc.

Sống hay chết, buồn hay vui là lẽ sống ở đời, cần gì phải tính toán thiệt hơn. Con người chỉ có một lần sống và một lần chết. Tâm trạng thời thế, triết lý nhân sinh mà Nguyễn Trãi nói đến trong phần hai của bài ca dao là nỗi buồn sâu kín, lan tỏa trong tâm hồn nhà thơ. Triết lý sống của Nguyễn Trãi thể hiện sự thương cảm cho những số phận của con người, đồng thời thể hiện sự cương quyết của ông khi rời bỏ một chức quan đầy gian dối. Đăng Dung đã từng có những câu thơ này:

Đời dã man, tuổi già mà thôi!

Đất rộng trời cao.

Gặp gỡ những kẻ cơ hội,

Vỡ tan bao buồn vui lẫn lộn ai!

Quả thực, nỗi niềm của kẻ ghét bỏ chức quan, cũng là nỗi bi ai của kẻ sĩ trong thời phong kiến, khi tài năng và đức độ không được trọng dụng.

Côn Sơn ca – vẻ đẹp tâm hồn và tình yêu thiên nhiên của người anh hùng dân tộc Nguyễn Trãi. Bài hát Côn Sơn Không đơn thuần là một bài thơ tả cảnh, ẩn sâu trong đó là bóng dáng của một con người đang mang nỗi đau của một người không được ơn, chất chứa nỗi buồn thế hệ sâu sắc. Đồng thời thể hiện vẻ đẹp vẹn toàn, vẻ đẹp tỏa sáng ngay cả khi cuộc đời là một chuỗi bi kịch.

đồng cỏ

.

Nguồn: https://luanvan247.net
Danh mục: Ca dao tục ngữ

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button