Tác giả

Đào Duy Từ và bài ca dao “Ba đồng một mớ trầu cay…”

Đào Duy Từ là nhà quân sự, nhà thơ, nhà văn hóa, danh thần thời chúa Nguyễn Phúc Nguyên (chúa Sãi). Chỉ 8 năm phò tá chúa Sái từ 1627 đến 1634, nhưng Đào Duy Từ đã khắc họa đặc sắc hình ảnh một người thầy của chúa Sái, một vị tướng quân, một nhà chính trị, một nhà chiến lược, một nhà kiến ​​trúc, một nhà kỹ thuật, một nghệ sĩ tài hoa, một nhà bác học, người góp phần quan trọng trong việc định hình trạng thái, địa lý và bản sắc Nam Kỳ. Nhà Nguyễn đã công nhận ông là vị khai quốc công thần và thờ ở Thái miếu. Câu chuyện về Đào Duy Từ và câu ca dao “Ba đồng một mớ trầu cay…” đã cho chúng ta thấy được tài năng và lòng trung thành của Đào Duy Từ đối với chúa Nguyễn.

Xem Thêm : Phạm Văn Ngôn, người chí sĩ yêu nước giỏi văn chương

Đào Duy Từ

Bối cảnh lịch sử: Đầu thế kỷ XVII, giữa các “tập đoàn” phong kiến ​​đã xảy ra nhiều sự việc rối ren. Ở Đàng Ngoài, từ bắc sông Giang trở vào là thời kỳ phân tranh giữa vua Lê và chúa Trịnh, từ nam sông Giang trở vào thuộc quyền cai trị của chúa Nguyễn nên thường gọi là Đàng. Trọng trong sử sách.

Về mặt lý thuyết, cả họ Trịnh và họ Nguyễn đều mang khẩu hiệu “diệt Mạc” để thu phục nhân tâm và thề trung thành với nhà Hậu Lê. Nhưng thực tế lại khác, cả hai đều muốn tạo sức ảnh hưởng cho riêng mình và nhắm đến ngai vàng…!

Đào Duy Từ (1572 – 1634), hiệu là Lộc Khê, quê ở xã Hoa Trai, huyện Ngọc Sơn, phủ Tĩnh Gia, (Thanh Hóa ngày nay). Cha anh tên là Đào Tá Hân, là ca sĩ chuyên nghiệp. Mẹ anh họ Nguyễn. Anh ấy thông minh, và học hỏi được rất nhiều điều.

Ông muốn lập thân bằng con đường khoa bảng, nhưng bị chính quyền chúa Trịnh coi là con nhà nòi, nên gạch bỏ tên ông. Ông buồn bực nói với bạn bè rằng: “Nghe nói chúa Nguyễn Hưng ở Thuận Quảng, làm nhiều việc phúc đức, có lòng với hiền nhân, kính trọng hiền nhân… Nếu ta giúp được thì y như rằng Trương Lương sẽ trở về. Hán., Ngũ Viên thành Ngô, có thể đem công danh hiển hách, không phải nát cây cỏ uổng phí một đời… “

Mùa đông năm Đinh Dậu (1627). Đào Duy Từ trốn vào xứ Đàng Trong. Vào Nam, đầu tiên, chàng đi chăn trâu cho một phú ông ở Tùng Châu. Phú ông thấy Đào Duy Từ được học hành tử tế, bèn thưa chuyện với Hoài Nhân nghĩa sĩ là Trần Đức Hòa, là người có trí tuệ được chúa Nguyễn Phúc Nguyên tin cậy. Trần Đức Hòa gọi Đào Duy Từ đến hỏi chuyện. Thấy anh đã hiểu ra mọi chuyện, anh đã giữ anh lại và gả con gái cho anh.
Một hôm, Trần Đức Hòa đem bài Ngọa Long Cương của Đào Duy Từ đến tặng Nguyễn Phúc Nguyên. Đọc xong, chúa Nguyễn biết Đào Duy Từ là người có chí lớn, liền cho gọi Duy Từ đến. Nghe Đào Duy Từ nói chuyện anh hùng, tỏ ra là người rất hiểu đời, Nguyễn Phúc Nguyên (Sái Vương) mừng lắm, bèn họp bàn, phong Đào Duy Từ làm Đô trưởng Nội. Tấn, tước Lộc Khuê hầu. , coi sóc phi cơ quân sự bên trong và bên ngoài, và phụ trách chính quyền quốc gia.

Từ đó, Duy Từ nghe theo lời chúa Nguyễn. Ông đã lập mưu giúp chúa Nguyễn làm được nhiều việc lớn. Chúa Nguyễn thường nói với mọi người rằng: Đào Duy Từ thực sự là Tử Phòng, Khổng Minh ngày nay.

Năm Đinh Mão (1627), chúa Trịnh Đàng Ngoài muốn họ Nguyễn ở Đàng Trong phải thần phục nên đã cử một đoàn sứ thần mang sắc phong vua Lê đi phong cho Sái Vương (chúa Nguyễn Phúc Nguyên). yêu cầu Sái Vương cho con trai vào, đồng thời phải nộp 30 con voi và 30 chiếc thuyền làm cống phẩm cho nhà Minh. Chúa Sai từ chối, nhưng không biết xử trí ra sao, bèn tập hợp các cận thần để hỏi kế. Lộc Khê hầu Đào Duy Từ khuyên chúa Nguyễn ban đầu nên thụ phong, rồi tìm cách đối phó.

Ba năm sau, thấy thời cơ thuận lợi, Lộc Khê hầu mới bàn với Sái Vương sai thợ làm một cái mâm đồng có hai đáy, bỏ sắc phong của vua Lê Phong và đính một tờ giấy có 4 chữ Hán. câu ở giữa. sau đó được niêm phong. Trên mâm bày nhiều lễ vật hậu hĩnh, rồi sai Lại Văn Khuông làm sứ giả mang ra Thăng Long (nay là Hà Nội) tạ ơn vua Lê, chúa Trịnh.
Nhờ có sự chuẩn bị trước nên khi vào Kinh Đô gặp chúa Trịnh, Lại Văn Khuông đã đối đáp rất suôn sẻ. Chúa Trịnh ân cần cho Khương và phái đoàn về kinh đô, chờ Chúa dạy dỗ. Trên đường đi, Khương bí mật mở cuốn sổ tay do Đào Duy Từ tặng. Đọc xong, Khương cùng cả đoàn lẻn vào Nam. Thấy đoàn sứ giả đột ngột bỏ chạy, chúa Trịnh sinh nghi, bèn sai người phá mâm lễ, xem tờ sắc phong trước, một tờ giấy có ghi bốn câu đối bằng chữ Hán:

NHIỀU LƯỢT CÓ THỂ TIỆN LỢI
PHÙ HỢP CHÁY
TRƯỜNG TRUNG TÂM LÀM ĐẸP
SỨC MẠNH TƯƠNG LAI.

Cả triều đình không hiểu ý thơ, cuối cùng Trịnh Tráng phải mời một nhà Nho thông thái, uyên bác đến giải nghĩa. Sau khi đọc nó, người chủ vườn giải thích rằng:

“MAU DIFFERENT” có nghĩa là từ “Mau” không có dấu phẩy là từ DU;
“MI PHI PHI KIEN TIEN” nghĩa là chữ Mi, bỏ chữ Ken, còn lại là chữ BẤT KỲ;
“ÁI LẠC TAM TRƯỜNG” nghĩa là chữ Ái để mất (mất) chữ “lòng” thành chữ THU;
“SỨC MẠNH TƯƠNG LAI” có nghĩa là chữ “Lục” đối nghĩa (đối nghịch) với chữ “Lai” là chữ SHARP.

Vậy ghép cả 4 chữ mới tạo thành câu: “YUU LU LU DU HUONG”, nghĩa là “Tôi không thọ giới”.

Nghe xong, Trịnh Tráng vội tri hô quân lính đuổi theo Lại Văn Khương, nhưng lúc đó Khương và cả đoàn đã bỏ chạy tán loạn. Trịnh Tráng muốn ra đánh chúa Nguyễn nhưng Cao Bằng và Hải Dương đều có địch, đành phải hoãn binh.

Trịnh Tráng cho người biết việc Sái Vương không nhận sắc phong là do một tay Lộc Khê Đào Duy Từ dựng lên. Chúa Trịnh đã bày mưu tính kế để lôi kéo Lộc Khê rời bỏ Chúa Nguyễn (Đàng Trong) và trở về với triều đình vua Lê và chúa Trịnh (Đàng Ngoài).

Chúa Trịnh mắc mưu, sai người mang nhiều vàng bạc bí mật cho Đào Duy Từ, kèm theo bức thư riêng có bốn câu thơ:

“Leo lên cây bưởi hái hoa.
Bước xuống vườn cà chua hái hồng hông.
Nụ tầm xuân nở ra màu xanh
Em có chồng rồi, em xin lỗi! “

Bài thơ nói về câu chuyện tôi (chúa Trịnh) và tôi (Đào Duy Từ) thuở nhỏ trèo cây hái hoa bưởi, xuống vườn hái nụ hồng hông. Ý thơ trong sáng như ngọc, là lời nhắn nhủ tri ân, nhắc nhở ông bà tổ tiên, quê hương ở Đàng Ngoài. Nếu trở về, anh ta sẽ được triều đình trọng dụng, nhưng nếu không, sẽ ngầm bị uy hiếp. Người ta đồn rằng Đào Duy Từ đã xây mộ cho cha mẹ ở Bình Định để tránh bị Đàng Ngoài kiểm soát. Vì vậy, Đào Duy Từ không sợ chúa Trịnh trả thù; ông trả lại lễ vật và viết bài thơ đáp lễ chúa Trịnh như sau:

“Ba đồng một mớ trầu
Tại sao bạn không yêu cầu những ngày còn lại?
Bây giờ tôi đã có chồng
Như chim vào lồng, như cá cắn câu.
Cá cắn câu thì biết gỡ ở đâu.
Chim vào lồng biết khi nào ra ”.

Chúa Trịnh đọc thơ biết khó dụ được họ Đào, nhưng thấy bài thơ chưa có đoạn kết, ý thơ còn bỏ ngỏ nên vẫn còn hy vọng, bèn cho người mang thêm lễ vật, lại mang thư đến. từ chúa Trịnh. để gặp lại Đào Duy Từ.

Lần này, ông mới viết xong hai câu cuối cùng gửi đi, để trả lời dứt khoát lời mời của chúa Trịnh. Hai câu đó như sau:

“Với một trái tim để cảm ơn,
Thôi đi, chồng ghen! “

Theo giai thoại dân gian, “chồng tôi” được Đào Duy Từ ngụ ý để chỉ chúa Nguyễn. Từ đó, Đào Duy Từ ở lại giúp chúa Nguyễn ổn định và phát triển vùng nội ô, mở mang bờ cõi nước ta cho đến khi mất …

Nguồn: Sưu tầm

Xem thêm:

Bạn Đang Xem: Đào Duy Từ và bài ca dao “Ba đồng một mớ trầu cay…”

Nguồn: https://luanvan247.net
Danh mục: Tác giả

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button