Tác giả

Giải Nobel văn chương – Đường vinh quang không bằng phẳng

Xem Thêm : Fredéric Mistral – nhà thơ suốt đời đề cao lí tưởng dân tộc

Có thể nói, con đường đến với vinh quang của hầu hết những người đoạt giải Nobel luôn gập ghềnh, gập ghềnh.

Điểm khác biệt lớn hay đặc điểm nổi bật của các nhà văn đoạt giải Nobel là ý chí sống và quyết tâm phục vụ lý tưởng cao cả, bất chấp mọi khó khăn trở ngại. Hơn nữa, như nhà triết học người Đức Nietzsches đã nói, sáng tạo là nguy hiểm, muốn sáng tạo là chọn một cách sống nguy hiểm, và văn học là một lĩnh vực sáng tạo. Vì vậy, có thể nói, con đường đến vinh quang của hầu hết những người đoạt giải Nobel luôn gập ghềnh.

Guatémala M. Asturias

Miguel Ángel Asturias (1899–1974) / Giải Nobel Văn học 1967

Nhà văn Guatémala M. Asturias, giải Nobel 1967, do phản đối chế độ độc tài nên mấy lần phải sống lưu vong, một lần bị tước quyền công dân. Nhưng nếu không có sự kiên định ấy, ông không thể khám phá và phát huy cội nguồn sâu xa của văn học dân gian, không thể trở thành “cha đẻ của nền văn học Mỹ Latinh vĩ đại”, một nền văn học biết thể hiện mình. bề dày văn hóa của lục địa này và vươn lên ngang tầm với các nền văn học lớn xưa và nay. Không thể không thừa nhận rằng M. Asturias cùng với G. Garcia Marquez là đại diện tiêu biểu cho chủ nghĩa hiện thực huyền diệu Mỹ Latinh.

P. Neruda

Số phận của nhà thơ Chile vĩ đại P. Neruda, người được giải thưởng Nobel năm 1971, không kém phần trôi nổi nhưng cũng đầy vinh quang. Ông sống trong vất vả, lưu đày, và ngay cả sau khi ông qua đời, được cả thế giới ngưỡng mộ, ông vẫn không được nhắc đến ở đất nước của mình. Mãi đến gần đây, năm 2004, người dân Chile lại tưng bừng kỷ niệm 100 năm ngày sinh của ông, coi ông là niềm tự hào dân tộc, là biểu tượng bất khuất của nhân loại.

Y. Kawabata

Kawabata 1968 / Giải Nobel Văn học 1968

Người Nhật Bản đầu tiên nhận giải Nobel năm 1968 là Y. Kawabata, người đã chịu “khổ sai” theo một cách khác. Cả đời này anh cô đơn, cả cuộc đời này dường như chỉ có anh Tôi biết một mình, một mình hoặc. Sinh ra chưa được bao lâu, anh lần lượt mất đi cha, mẹ, chị gái và bà ngoại. Người viết phải sống với ông nội. Nhưng ông của anh bị mù, bị bệnh và qua đời vào năm 1914. Những vật chất để tồn tại không thể vượt qua nỗi cô đơn, đôi khi khủng khiếp đến mức người đàn ông trẻ phải bỏ nhà đến bán đảo Isu sinh sống. Những bâng khuâng cảm xúc ấy đã mở đầu cho cuộc tìm kiếm ý nghĩa cuộc sống, tìm kiếm lý tưởng của nhà văn, cho quá trình thai nghén tác phẩm sau này.

Mục tiêu cuối cùng của cuộc tìm kiếm bao gồm hai cuộc hành trình đồng thời: đi sâu vào thế giới của lòng nhân ái và thế giới của cái ác. Đi vào thế giới từ bi thì dễ, vào thế giới ác thì khó biết bao! Mâu thuẫn này là bi kịch tinh thần của Y. Kawabata mà ông muốn đi đến cùng. Theo một số học giả, chính địa ngục này là nguyên nhân dẫn đến cái chết kinh hoàng của ông. Vào ngày 6 tháng 4 năm 1972, Y. Kawabata tự sát trong một ngôi nhà nhỏ mà ông thuê ở Zushi bên hồ bơi cách ngôi nhà lớn của ông không xa.

H. Martinson

FH. Martinson / Giải Nobel Văn học 1974

Trải qua những khó khăn nhất trong cuộc sống đời thường có lẽ là người đồng đoạt giải Nobel năm 1974, nhà văn Thụy Điển H. Martinson. Cha mất cách đây một năm, mẹ sang Mỹ định cư, bỏ lại các con cho làng quê. Những đứa trẻ được nuôi dạy luân phiên, và H. Martinson chuyển từ nhà này sang nhà khác. Lớn lên một chút, anh đi làm thủy thủ, rồi trải qua đủ thứ nghề cực nhọc, phiêu bạt nhiều nơi trên thế giới.

Đáng chú ý là trong những năm tháng khó khăn ấy, anh vẫn kiên trì, say mê tự học, kiên trì luyện chữ, thường là trên giấy nháp. Từng bước, khi những bài thơ và câu chuyện nổi lên, anh được chú ý và ngưỡng mộ. Sau đó, H. Martinson được bầu làm viện sĩ Viện Hàn lâm Thụy Điển và là đại biểu quốc hội suốt đời. Điểm nổi bật nhất trong các sáng tác của ông là cảm hứng vũ trụ độc đáo, qua đó bộc lộ nỗi sợ hãi trước tương lai mà “Dũng khí và tài trí không thiếu thời đại không gian và thống trị bầu trời – Chỉ thiếu tình người mà thôi”.

K. Hamsun

Knut Hamsun / Giải Nobel Văn học 1920

Cuộc đời của nhà văn Na Uy K. Hamsun, giải Nobel văn học năm 1920, cũng khốn khó như bao người nghèo khổ khác. Ông sinh ra trong một gia đình rất nghèo, ngay từ nhỏ đã phải sống và làm công ăn lương, bị đánh đập, bỏ đói, lớn lên phải lang thang tha hương kiếm sống, đói khát, bệnh tật, viết lách nhưng không được. được người khác cho phép. lưu ý…

Độc giả Việt Nam ngày nay có thể hiểu về cuộc đời của K. Hamsun lúc bấy giờ qua cuốn tiểu thuyết mang nhiều nét tự truyện Đói bụng đã được dịch và in nhiều lần bằng tiếng Việt. Và mặc dù về cuối đời, tư tưởng chính trị của ông trở nên cực kỳ phản động, và ông bị buộc tội thân phát xít, bị kết án và phạt tiền, nhưng vinh quang văn học của ông không ai sánh kịp. Đó cũng là sự trớ trêu của số phận.

A. Solzhenisyn

Ở phạm vi rộng hơn, với cách phân loại sâu hơn, nhà văn Nga A. Solzhenisyn, giải Nobel Văn học 1970, có lẽ sẽ được nhắc đến nhiều hơn. Cha mất sáu tháng trước khi cậu được sinh ra, mẹ phải làm nghề đánh cỏ để nuôi các em nhỏ mồ côi. Vì thương mẹ, anh theo học đại học toán lý gần nhà nhưng lại học từ xa về lịch sử, triết học và đặc biệt là văn học.

Solzhenitsyn 1974 / Giải Nobel Văn học 1967

Ông tham gia đoàn thanh niên cộng sản, nhập ngũ năm 1941, chiến đấu dũng cảm, được khen thưởng và thăng cấp nhanh chóng. Bằng cách chỉ trích Stalin trong một bức thư riêng, năm 1945, Đại úy A. Solzhenisyn bị kết tội chống lại chính quyền Xô Viết và phải trải qua 8 năm cải tạo. Ông đã trải qua những lần bị cưỡng bức lao động, bị đày ải, bệnh tật, bị dư luận lên án, bị tước quyền, bị trục xuất khỏi Tổ quốc – tất cả chỉ vì tiếng nói không khoan nhượng của lương tâm nhà văn về những gì xấu xa, xấu xa của con người, của một cơ chế xã hội.

Sở dĩ anh vượt qua được những thăng trầm khốc liệt đó là nhờ vào mục đích sống vững vàng và tình yêu văn học vô bờ bến. Mục đích của ông: khám phá tâm hồn Nga một cách đầy đủ nhất để thúc đẩy người dân Nga tiến lên. Tình yêu văn học đã đưa anh lên trên tất cả, trở thành một nhà văn vượt ra khỏi biên giới quốc gia.

Đây chỉ là một vài ví dụ được đề cập khá ngẫu nhiên. Qua tiểu sử ngắn gọn của từng nhà văn trong cuốn sách này, người đọc có thể thấy ngay rằng không có con đường nào đến vinh quang là dễ dàng, không có số phận nghệ sĩ chân chính nào là nông nổi.

Nguồn: Truyền thông Văn hóa Đông Tây

Bạn Đang Xem: Giải Nobel văn chương – Đường vinh quang không bằng phẳng

Nguồn: https://luanvan247.net
Danh mục: Tác giả

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button