Tác giả

Johannes Jensen, nhà văn nổi tiếng nhất Bắc Âu nửa đầu thế kỉ XX

Johannes Jensen (20/01/1873 – 25/11/1950) là một trong những nhà văn nổi tiếng nhất Bắc Âu nửa đầu thế kỉ XX, người đã tạo ra một thế giới nghệ thuật phong phú và độc đáo với những khám phá vừa thi vị vừa đầy trí tuệ. Ông được tặng giải thưởng Nobel Văn học năm 1940 vì những cuốn sách biết kết hợp cái hiện đại với cái vĩnh cửu trong một cách nhìn huyền thoại.

Johannes Jensen
Johannes Jensen (20/01/1873 – 25/11/1950)

Tiểu sử Johannes Jensen

Johannes Vilhelm Jensen là con một bác sĩ thú y hiểu biết rộng. Từ thuở nhỏ ông ham đọc, yêu thiên nhiên và cuộc sống của người nông dân Đan Mạch, được mẹ và gia sư dạy học là chính, sau đó mới vào học ba năm trường Cathedral (Viborg, 1893). Ông tiếp tục theo học ngành y tại Trường Đại học Tổng hợp Copenhagen. Tuy nhiên, khi ra trường ông lại sống bằng nghề làm báo, viết văn và chú tâm đi sâu nghiên cứu văn học. Ông chịu ảnh hưởng rất lớn của K. Hamsun và R. Kipling. Từ thời sinh viên, J. Jensen đã kiếm tiền bằng cách viết truyện trinh thám dưới bút danh Ivar Lucke và bắt đầu sáng tác cuốn tiểu thuyết Người Đan Mạch. Với số nhuận bút nhận được, J. Jensen đi du lịch ngắn ngày sang Mỹ và bị chấn động trước mức sống cùng sự phát triển công nghệ ở đất nước này. Trở về, ông tiếp tục sáng tác tiểu thuyết, truyện ngắn, thơ. Tác phẩm nổi tiếng đầu tiên là bộ ba Những câu chuyện mới ở Himmerland (1904), ghi lại các truyền thuyết dân gian ở vùng quê hương ông. Vốn được đào tạo trong các môn khoa học chính xác, ông chứng tỏ mình là một bậc thầy của thứ ngôn ngữ chuẩn mực, súc tích, giàu hình tượng. Các tác phẩm của ông thường mô tả bản chất con người trong một tình thương đồng loại sâu sắc, vô biên.

Bộ tiểu thuyết nổi tiếng nhất giúp ông nhận được Giải Nobel năm 1944 là Đường dài (6 tập), viết từ năm 1908 đến 1922, kể lại quá trình tiến hóa của con người từ nguyên thủy đến hiện đại. Tuy nhiên, do chiến tranh, đến năm 1945 lễ trao giải mới được tổ chức.

Trong cuộc đời mình, J. Jensen đi nhiều (hai lần vòng quanh thế giới), viết nhiều (tổng số tác phẩm gồm cả tiểu thuyết, thơ ca và kịch của ông lên đến con số 60). Người dân Đan Mạch vẫn so sánh ông với K. Hamsun, S. Undset và T. Mann bởi “sự nghiệp phong phú và sức mạnh hiếm có của tưởng tượng thơ ca kết hợp với sự khám phá đầy trí tuệ và tính độc đáo của văn phong” trong các tác phẩm của ông, những tác phẩm cho đến nay vẫn có giá trị to lớn đối với văn học Bắc Âu.

Đánh giá của Viện Hàn lâm Thụy Điển(1):

Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điể
Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển – Ảnh: BSTV

Ngày hôm nay, Johannes V. Jensen sẽ đích thân nhận giải thưởng Nobel Văn chương năm 1944, và chúng ta vui mừng chào đón nhà văn Đan Mạch vĩ đại, người mà từ buổi đầu của thế kỉ này luôn đứng trên đầu trận tuyến, luôn tích cực hoạt động, cả một thời gian dài đã gây nhiều tranh cãi, nhưng được ngưỡng mộ ở mọi nơi nhờ sinh lực bền bỉ của mình. Không chút ác ý, đứa con của vùng đất hoang khô cằn cỗi và lộng gió của Jutland đã khiến những kẻ đương thời sửng sốt bởi một sức sáng tác dồi dào khác thường. Ông có thể được coi là một trong những nhà văn Scandinavi có khả năng sáng tạo dồi dào nhất. Ông đã tạo dựng được một sự nghiệp văn chương đồ sộ, với những tác phẩm thuộc nhiều thể loại khác nhau: sử thi và trữ tình, hiện thực và hư cấu, cũng như những bài luận lịch sử và triết học, đó còn chưa kể những chuyến du ngoạn khoa học trên mọi phương diện của ông.

Kẻ bài trừ thánh tượng và nhà cải cách văn phong táo bạo này ngày càng trở thành một nhà kinh điển đáng kính, và tự đáy lòng, ông cảm thấy gần gũi với thơ ca của thời đại vàng son và hi vọng một ngày nào đó ông sẽ được xếp vào hàng những linh hồn hộ mệnh của dân tộc mình.

Thời sinh viên, Johannes V. Jensen từng say sưa nghiên cứu về sự tiến hóa sinh học và sự phát triển của triết học đến nỗi chính ông có thể phải sửng sốt trước bước tiến phi thường của chính mình. Một bản năng chinh phục tạo cơ sở cho bản thể của ông. Ông là một người dân vùng Himmerland, một khu vực khá khô cằn ở miền Tây Jutland; ấn tượng về con người và sự vật ở đây khắc sâu trong tâm trí ông. Sau này ông sẽ nhớ lại những nguồn vui ẩn giấu dưới những cảm nhận của ông về tuổi thơ, kho báu cổ xưa của những kí ức gia đình. Cha ông, bác sĩ thú y vùng Farsử, sinh ra ở miền đất đó. Ông nội của Jensen là một người thợ dệt già ở Guldager. Jensen xuất thân từ tầng lớp nông dân. Mang đậm nét đặc thù của nguồn gốc này, tác phẩm đầu tay của ông viết về vùng đất nơi ông sinh ra. Kiệt tác Himmerlandshistorier của ông vẽ lên bức tranh độc đáo về những con người nguyên sơ bán hoang dã, những kẻ vẫn còn nguyên những nỗi sợ cổ xưa. Một lần nữa, ta tìm thấy trong những bài thơ thuần thục của ông hình ảnh vùng đất hứa của tuổi thơ ông, vùng đất mạnh mẽ luôn sống động với quá khứ.

Những tác phẩm đầu tay của Johannes V. Jenses cho thấy ông là một chàng trai tỉnh lẻ; một sinh viên thuộc phe chống đối sống ở Copenhagen, một thanh niên gắng gỏi và khích động, nhiệt thành đấu tranh chống lại sự tầm thường và hẹp hòi về trí tuệ. Đứa con vùng Jutland, ý thức cao độ về bản thân, khó gần nhưng nhạy cảm, sớm nhận ra rằng đất nước của anh quá nhỏ hẹp. Ngạt thở trong môi trường quá quen thuộc của những hòn đảo Đan Mạch, ông ném mình vào chủ nghĩa lãng mạn ngoại lai với sự lãnh đạm của một tay cờ bạc. Những chuyến du lịch xuyên qua những lục địa khác lần đầu tiên mở ra trước mắt ông cái không gian cần thiết cho trí tưởng tượng không ngừng nghỉ và phóng túng của ông. Trong suốt thời kì này, ông ca tụng công nghệ và cơ giới hóa. Cũng như H. C. Andersen, đồng bào của ông, có lẽ Johannes là người đầu tiên miêu tả sức hấp dẫn của việc du lịch bằng đường sắt. Jensen là nhà tiên tri cho những điều kì diệu của thời đại chúng ta, những tòa nhà chọc trời, ô tô và chiếu bóng, những thứ mà ông không bao giờ cảm thấy mệt mỏi khi viết ca ngợi chúng trong những cuốn tiểu thuyết viết về nước Mỹ như Bà Ora (Madam D’Ora, 1904) và Bánh xe (Hjulet, 1905). Nhưng chẳng bao lâu, ông bước sang một giai đoạn phát triển mới; dẫu có thể là đơn giản hóa sự việc, ta có thể nói rằng, sau khi đã thỏa mãn niềm say mê đi chu du khắp chốn, ông bắt đầu tìm kiếm trong thời gian cái mà ông đã theo đuổi trong không gian. Con người từng ca ngợi cuộc sống hiện đại với tốc độ phát triển chóng mặt và những máy móc ầm ĩ của nó, chính con người đó, giờ đây trở thành khán giả ngắm nhìn những kỉ nguyên xa xưa và dồn hết tâm trí tìm hiểu những thời kì phát triển chậm chạp và trì trệ, khi con người lần đầu tiên đi tìm kiếm sự phiêu lưu.

Theo cách đó, chúng ta đến với sáng tác có lẽ là quan trọng nhất của ông, tiểu thuyết 6 tập có nhan đề Đường dài (Den lange rejse), đưa chúng ta đi suốt từ kỉ nguyên băng hà đến thời kì Christopher Colombus. Chủ đề trung tâm hay một trong các chủ đề trung tâm của tác phẩm này là sứ mệnh lớn lao của người Scandinavi, từ thời kì nhập cư ồ ạt và cuộc xâm lược của người Norman đến thời điểm phát hiện Châu Mĩ. Jensen coi Christopher Colombus là con cháu của dòng họ Lombard, tóm lại là một người Bắc Âu, nếu không phải là một người Jutland giống như ông. Trong một chuỗi sự kiện kì bí này xuất hiện một nhân vật truyền thuyết: Nornagestr. Ông hoàn toàn không phải là người xuất hiện ở tòa án của vua Olaf Tryggvason để kể lại những câu chuyện của mình và chết tại đó. Theo truyền thuyết Iceland, ông đã 300 tuổi, nhưng Jensen còn làm cho ông già hơn và biến ông thành một kiểu Ahasverus, có mặt khắp mọi nơi, luôn đi sau thời đại mình, một kẻ xa lạ giữa những thế hệ mới, tuy nhiên lại trẻ hơn họ vì ông đã sống ở thời đại mà bản thân sự tồn tại đã là trẻ trung và trong đó, loài người gắn bó hơn với nguồn gốc của họ. Nhà văn đã đi theo truyền thống chỉ trong chừng mực nó hữu ích đối với ông. Ba nhà tiên tri đã đến bên người mẹ của Nornagestr để ngắm đứa trẻ, và một trong số họ tiên đoán rằng nó sẽ chết ngay khi cây nến ngừng cháy. Gro, người mẹ, ngay lập tức dập tắt cây nến và đưa cho đứa trẻ làm bùa hộ mạng. Trong tác phẩm của Johannes V. Jensen, đôi khi Nornagestr thắp sáng cây nến khi đang ở một đất nước xa lạ, và bất cứ khi nào ông làm vậy, một vực thẳm khôn cùng của thời gian mở ra trước ông. Và khi ông trở lại, tràn ngập tình yêu cuộc sống, ông được đưa trở về quê hương, vùng Zealand xanh tươi và trong lành.

Mọi truyền thuyết tồn tại bởi chỉ riêng lý do không thể làm sáng tỏ những trải nghiệm. Vậy Nornagestr là gì, kẻ đóng vai trò quan trọng đến thế trong sử thi của nhà văn bậc thầy Đan Mạch này? Có lẽ đó chính là tinh thần của dân tộc Bắc Âu hiện ra trong đêm tối giống như một bóng ma hay tạo vật hóa thân. Người ta ngờ rằng kẻ du hành khắp thế giới độc nhất vô nhị tay cầm đàn hạc này gần gũi với hình ảnh của chính tác giả, người đã trao cho ông nhiều ý tưởng về sự sống và cái chết, về mối quan hệ gắn kết giữa hiện tại và cõi vĩnh hằng – thành quả quý báu của những trải nghiệm thu được từ những vùng đất và đại dương trên khắp trái đất.

Đối với Johannes V. Jensen, người lớn lên từ vùng đất Jutland hoang vắng nơi mà chân trời thường bị lồi lõm bởi hàng dãy những nón dung nham, chẳng có gì đáng ngạc nhiên khi sự quan tâm của ông được chia đều giữa thực tế và huyền thoại và ông tìm con đường của mình giữa những chiếc bóng của quá khứ và thực tế của hiện tại. Tác phẩm của ông phát lộ cho chúng ta sự hấp dẫn của cái nguyên sơ đối với một con người nhạy cảm lẫn sự cần thiết phải biến sức mạnh hung ác thành sự dịu dàng. Ông đã đạt đến đỉnh cao nghệ thuật bằng chính những tương phản bạo liệt đó. Một làn gió mặn mà, tươi tắn thổi qua tác phẩm của ông, các tác phẩm trải ra với một ngôn ngữ sống động, sức biểu đạt mạnh mẽ và năng lượng phi thường. Chính trong những nhà thơ gắn chặt nhất với quê hương đất nước họ, chúng ta nhận ra cái thiên tài thơ ca này dành cho ngôn từ. Jensen là tiếng nói của Jutland và của Đan Mạch. Với tài năng của mình, ông xứng đáng với danh hiệu người kể chuyện xuất chúng nhất về những cuộc đấu tranh thắng lợi của dân tộc Bắc Âu chống lại thiên nhiên, cũng như sự tiếp nối tinh thần Bắc Âu qua mọi thời đại.

Thưa Ngài Jensen, nếu Ngài lắng nghe những điều tôi vừa nói, hẳn Ngài sẽ nghĩ rằng thời gian dành cho tôi quá ngắn ngủi để làm một cuộc hành trình dài xuyên suốt các tác phẩm của Ngài, và tôi đã bỏ qua nhiều điểm quan trọng của các tác phẩm đó. Thật may mắn cho chúng ta cũng như cho Ngài là một bài diễn văn hùng hồn là chẳng cần thiết bao nhiêu  trong trường hợp của Ngài. Ngài là một thành viên nổi tiếng của đại gia đình chúng ta, và với tư cách đó, xin mời Ngài lên nhận niềm vinh dự mà Viện Hàn lâm Thụy Điển đã quyết định dành cho Ngài từ tay Đức Vua tôn kính của chúng tôi.

Tại bữa tiệc, giáo sư A.H.T. Theorell, Trưởng bộ phận Sinh hóa của Viện Y học Nobel đã gọi Jensen là “đại diện tuyệt vời của truyền thống văn học đầy tự hào của đất nước láng giềng yêu dấu của chúng ta, Đan Mạch”.

* Diễn từ(2):

Tôi xin cảm ơn Viện Hàn lâm Thụy Điển tôn kính, cảm ơn đất nước Thụy Điển đã trao cho tôi một vinh dự lớn lao, giải thưởng Nobel Văn học. Lúc này đây, tất cả chúng ta đều nghĩ tới Alfred Nobel, lòng hào hiệp của người đã đóng góp to lớn cho khoa học, văn học và cho hòa bình trên toàn thế giới. Nhà khoa học, người Thụy Điển nhân đạo vĩ đại này đã đưa cái tên Thụy Điển vượt ra ngoài biên giới một quốc gia và làm cho các quốc gia xích lại gần nhau hơn.

Khi nghĩ về những bộ óc vĩ đại nổi tiếng thế giới của Thụy Điển, chúng ta thường nhớ tới những người đi trước Alfred Nobel, như Linné, thiên tài lỗi lạc trong lĩnh vực khoa học tự nhiên; người đã đặt những cái tên thích hợp cho các loài vật rất lâu trước khi người ta mơ tới khái niệm tiến hoá; người đã phân loại vượn, khỉ không đuôi và con người dưới cái tên chung là động vật linh trưởng. Niềm đam mê nghiên cứu tự nhiên, với tất cả những gì biết chuyển động và hô hấp, chính là động lực thúc đẩy thiên tài của ông. Bất cứ khi nào ta đọc về định nghĩa loài hay mở một cuốn sách về khoa học và lịch sử tự nhiên được viết bằng bất kì ngôn ngữ nào, ta cũng sẽ thấy tên Linné. Có cái gì đó mang sự tươi mát của trí tuệ, nhẹ nhàng của tinh thần trong Linné, cái mà hàng bao thế kỉ nay đã được gắn liền trong tâm trí con người với cảnh sắc núi non hùng vĩ và thiên nhiên tươi đẹp của Thụy Điển.

Tôi không thể nói về Linné mà không liên tưởng tới Charles Darwin. Ông không chỉ là một nhà khoa học, người đã vạch một đường kẻ giữa hai thời đại, mà còn là một con người tốt bụng nhất, đáng yêu nhất của loài người, người cha tốt nhất trong mọi người cha; cái tên cao quý của ông hiện vẫn đang được gìn giữ bởi thế hệ thứ ba, thứ tư kế tiếp ông. Đối với ông, sự tiến hóa không chỉ là đối tượng nghiên cứu về sự sống mà là chính bản chất của sự sống, bằng chứng cho sự giàu có và kì diệu vô tận của thiên nhiên, hiển hiện mỗi ngày và khiến ông suy ngẫm.

Nếu ai đó xác định cấp độ trưởng thành của một quốc gia dựa trên năng lực lí giải và lĩnh hội của nó, thì nước Anh là nước đứng đầu về khả năng hiểu biết thế giới hiện thực, và con người đã trình bày những ý tưởng đậm nét Anh này một cách giản dị và bình thản chính là Charles Darwin.

Cách phân loài của Linné là nền tảng được Darwin dần kế thừa và phát triển thành những kết luận về nguồn gốc các loài. Khả năng cảm thụ hiện thực mang tính Anglo – Thụy Điển này, phát sinh từ nền móng Bắc Âu chung của chúng ta, đã giúp giải thích nguồn gốc của loài người trong tự nhiên.

Nhân dịp này, tôi muốn nói tới một cái tên khác của nền văn học Đan Mạch nhưng gắn liền với truyền thống Thụy Điển, đó là Adam Oehlenschlọger. Chắc các bạn còn nhớ khi ông gặp Esaias Tegnér, nhà thơ dân tộc Thụy Điển, tại Lund năm 1829, ông đã được chào đón như một nhà thơ vĩ đại và như một con người giản dị vốn có trong ông. Một trăm năm sau, năm 1929, cũng tại thị trấn này, tôi được cấp bằng học vị của trường đại học Lund. Tôi không phải là người kế vị Adam Oehlenschlọger, tôi chỉ là một trong số những người đi sau và ngưỡng mộ ông.

Với tình cảm của một người Bắc Âu, tôi muốn cảm ơn đất nước Thụy Điển vĩ đại và tự do, đất nước đã một lần trao vòng nguyệt quế cho người đồng hương của tôi, Adam Oehlenschlọger, và đã đôi lần đánh giá những sáng tác của tôi là xứng đáng được trao giải thưởng.

Tác phẩm của Johannes Jensen:

– Người Đan Mạch (Danskere, 1896), tiểu thuyết.

– Einar Elkjae (1897), tiểu thuyết.

– Những người Himmerland (Himmerlandsfolk, 1898), tập truyện, [Himmerland Stories].

– Vương triều sụp đổ (Kongens fald, 1900-1901), tiểu thuyết lịch sử 3 tập.

– Phục hưng Gotic (Den gotiske renaissance, 1901), tiểu luận.

– Những câu chuyện mới ở Himmerland (Nye Himmerland historier, 1904), tập truyện.

– Bà Ora (Madame d’Ora, 1904), tiểu thuyết.

– Những câu chuyện Himmerland. Tập ba (Hemmerland historier. Tredie Samling, 1910), tập truyện.

­­– Bước vào thời đại chúng ta (Introduktion til vol tidsalder, 1915), kí du lịch.

– Thơ (Digte 1904-1941, 1943), tuyển tập thơ, [Poems].

– Bánh xe (Hjulet, 1905), tiểu thuyết.

– Truyền thuyết (Myter, 1907-1945), 9 tập, truyền thuyết và thần thoại [Myths].

– Đường dài (Den lange rejse, 1908-1922) [The Long Journey], bộ 6 tiểu thuyết gồm Xứ sở đã mất (Den table land, 1919), Hầm lạnh (Ben, 1908), Người khách Norne (Norne Gst, 1919), Cuộc hành quân Cimbernes (Cimbernes fog, 1922), Con tàu (Skibet, 1912), Christofer Columbus (1922).

– Bốn mùa (Aarsti derne, 1923), tập thơ.

– Các chặng đường nhận thức (Andens stadies, 1928), khảo luận triết học.

– Swift và Oehlenschlọger (1950), tiểu luận.

* Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt:

– Nhớ rừng (truyện ngắn), Ngô Tự Lập dịch, in trong Đôi mắt lụa, Nxb Văn học, 1998; Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt Giải Nobel, Nxb Văn học, 1999.

– Chuyến đi cuối cùng của Kirsten, Ngô Văn Phú dịch, in trong Truyện ngắn đặc sắc các tác giả được giải thưởng Nobel, Nxb Văn học, 2004.

Tân Đôn dịch từ bản tiếng Anh
Trần Tiễn Cao Đăng hiệu đính

(Nguồn: http://nobelprize.org/Culture Globe)

Ghi chú:

(1) Do Per Hallstrum, Thư kí thường trực Viện Hàn lâm Thụy Điển đọc.

(2) J. Jensen đọc trong tiệc chiêu đãi giải thưởng Nobel ngày 10/12/1945 tại Tòa Thị chính Stockholm.

Xem thêm: Rudyard Kipling – nhà văn Anh với trí tưởng tượng rực rỡ

Nguồn: https://luanvan247.net
Danh mục: Tác giả

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button