Tác giả

Phạm Văn Ngôn, người chí sĩ yêu nước giỏi văn chương

Phạm Văn Ngôn (1883-1911) hiệu là Tùng Nhâm, đỗ Tú tài khoa Hán học, năm Bính Ngọ (1906), nên thường gọi là Từ Ngôn, người làng Việt Yên Hạ, nay thuộc Tùng Anh xã. Ông tích cực tham gia các hoạt động của Hội Duy Tân và phong trào Đông Du của Phan Bộ Châu đầu thế kỷ XX.

Tiểu sử Phạm Văn Ngôn

Năm 1906 Phan Bội Châu từ Nhật về liên lạc với Hoàng Hoa Thám lãnh tụ Khởi nghĩa Yên Thế bàn kế hợp tác với nghĩa quân Yên Thế, Phạm Văn Ngôn được Phan Bội Châu cử về Yên Thế. Đồn ở Phồn Xương (miền Đề Thám) gọi là Đôn Tử Nghệ cùng với Hoàng Xuân Hanh hoạt động, huấn luyện quân cờ và nhân cơ hội hợp tác chống Pháp.

Năm 1909, ông về Nghệ An chiêu mộ thêm binh lính, liệt sĩ hưởng ứng phong trào ở Yên Thế. Nhưng khi trở ra Bắc, ông bị Pháp bắt, đày ở Nghệ An rồi đày ra Côn Đảo. Ông bị bệnh kiết lỵ và mất trên đảo vào ngày 16 tháng 2 năm Tân Hợi (13 tháng 3 năm 1911).

Nhà bác học Đặng Nguyên Cẩn lúc bấy giờ cũng đang bị đày ra Côn Đảo đã có câu đối thăm Phạm Văn Ngôn, nguyên văn chữ Hán như sau:

– Huyền Hoàng địa vị, thích tu vi tài năng, phúc khí hai cánh, thừa sao? Làm thế nào để bạn dành phần còn lại của cuộc sống của bạn? Nằm xuống với Hải Hoàng Sơn, cầu mong muôn vạn linh hồn cứu nước;

– Vô tình bị đào thải, chỉ nghi diệc tự nhiên, ợ chết dã thú! Bỉ nghi sinh dã! Lần trước quân tử không có tư cách đối mặt, chính là mười đống kiến ​​thức.

Đại dịch:

– Vàng đen chưa định, đời cần cầu tài, đã dậy thì ngã? Kia có dậy nữa không? Kia đưa em giữa chân trời biển khơi, nguyện muộn màng cứu nước;

– Lựa chọn tình cờ, trời dường như say! Đáng chết như vậy, tại sao còn sống? Nó đáng sống, tại sao nó lại chết? Thương hại kẻ tay trắng mặt trắng, lang thang cả đời phải quên nhà.

Người em ruột của ông là Phạm Văn Thận cũng là một nhà nhân ái yêu nước hoạt động cùng thời với anh trai ông và bị đày ra Côn Đảo. Văn học tiếng Anhtrong đó có đoạn văn:

“Nhớ bạn già

Khắp trời và đất

Lười biếng từ trong ra ngoài

Phá sản mở ra con đường kinh doanh

Cầm bút nghiêng theo lối đấu trường

Gõ mái chèo thề rửa sạch núi sông, vẫy vùng lưu vực Bắc, trời Nam sáng ngời, soi bóng trăng trời,

Khoanh kiếm vượt qua gió bụi, theo yêu cầu của thủy triều Âu Á, bánh xe nhân đức chiến đấu với gió và sấm chớp.

Những người mong muốn được mở rộng tầm mắt với thế giới, rằng thời trang dang rộng vòng tay của họ một cách độc lập;

Có ai ngờ khi sa lưới Pháp, phải trải qua 5 năm gian nan ”.

Huỳnh Thúc Kháng cũng có câu đối Tùng Nhâm khóc:

– Dưới cửa sổ, ngươi không phải chết, trên xe bò cũng không phải chết, huống chi là giang hồ, kiếm khách nhặt lấy, sắt đá còn đây, võ công có hồn nhưng là. không chết;

– Người đã qua không thể mang về, người trở về chưa nổi dậy, đứng giữa lưu lạc, cạnh tranh khốc liệt, trời có gì vá được, anh hùng không đếm được đến hai.

Một số việc

Nhà báo này trong quá trình hoạt động yêu nước cũng đã sáng tác nhiều bài thơ ấn tượng và được truyền tụng là thơ:

Hoài Vũ Quang Sơn sự cố I, II

(Nhớ chuyện xưa ở núi Vụ Quang I, II)

Huỳnh Thúc Kháng dịch như sau:

Tôi

Thanh kiếm sau cầu vồng chiếu xuyên qua,

Hổ quê quyết một lòng một dạ.

Non Vũ mười năm thành trì,

Lớp găng tay màu đỏ của những ngọn núi ở phía đông.

II

Sương sớm bao phủ các kẽ hở,

Khẩu súng đen với mũ đỏ ẩn nấp bên kia.

Một giọng nói cất lên

Thượng nguồn làm vỡ đê

HTK dịch

Đôi câu đối chúc mừng Vương Hữu Phủ thi đỗ tiến sĩ:

– Phù Giáp U Hương, huynh ấp Hội, quân Khôi U Đình, Khoa Hoàn Nhất Trung, quốc thích, Khuông như hoang thử;

– Phan du Vu Nhật, Đăng hệ Vu ngục, Ngô Lưu Vu Hải, danh tự thiên hạ, trâm anh thế phiệt Hà Tài?[1]

Đại dịch:

– Chấn quán trường Hương, anh nhì thi Hội, chú ở tổ Đình, khoa Hóa nhà đầy, phù hộ vua thiên hạ.

– Phan du nhật nguyệt, Đàng hoàng trong tù, Ngô dày công biển cả, danh vọng ngàn dặm, áo cà sa tốn bao nhiêu tiền?

Anh ta cũng có Đặng Thái Thân câu đối khócmột đồng chí hoạt động trong Hội Duy Tân và phong trào Đông Du, mất năm 1910

Nguyên bản:

– Song Ngư bực bội, lão gia quy Hà Quý? Thập niên thường nguy, thân-thể đặc tụy, huyết diệc cạn kiệt, bồ kết, gió núi;

– Nhất Bộ oanh tạc, quốc hồn quốc túy tỉnh? Thiên Lý ngoại Binh giữ chức, Bác Văn Chí Nhị Bí, Sư Vạn Chí Nhị Đồng, Khắc Ca Hào Sư Kiếm Thủ Biên.

Đại dịch: Khóc Đặng Thái Thân

– Hai hòn đảo, những người bạn cũ đã đi đâu? Mười năm đắng cay mùi mẫn, em vì nó mà máu khô vì nó, lang thang tuổi trẻ sống trong sóng gió, bão táp;

– Một tiếng nổ lớn, thần quốc còn chưa tỉnh? Ngoài ngàn năm lưu lạc nghe tin buồn.[2]cô giáo[3] Khi biết tin, ông đã khóc và khóc với chiếc roi của mình bên cạnh thanh kiếm.

Những câu thơ, câu đối của Phạm Văn Ngôn, lúc bi tráng, lúc xót xa, thể hiện khí phách của những sĩ phu yêu nước thời ấy: Có chí, có tâm, nhưng không có thời.

Ghi chú

Bạn Đang Xem: Phạm Văn Ngôn, người chí sĩ yêu nước giỏi văn chương

[1] Các chính khách Phan Bội Châu, Đặng Nguyên Cẩn, Ngô Đức Kế

[2] Chú của Phạm Văn Tớp cũng đi lao động nước ngoài và mất ở Xiêm

[3] Ông Đặng Nguyên Cẩn. Tùng Nhâm và Ngư Hải đều là học trò của Đặng Nguyên Cẩn

Xem Thêm : Những tri thức, nhà văn, tác giả thế giới sinh vào tháng 3

Xem thêm:

Nguồn: https://luanvan247.net
Danh mục: Tác giả

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button