Tác giả

Theodor Mommsen, nhà Sử học được giải Nobel văn học

Theodor Mommsen (30/11/1817 – 1/11/1903) đoạt giải Nobel Văn học 1902, là một trong những nhà nghiên cứu viết về đề tài lịch sử lớn nhất thế kỷ XIX. Ông được trao giải Nobel văn học nhờ công trình đồ sộ “Lịch sử La Mã” – tác phẩm có ngôn ngữ trau chuốt, lượng kiến thức bách khoa khổng lồ trong lĩnh vực lịch sử và văn hóa Cổ La Mã đã khiến tên tuổi Mommsen lừng danh thế giới và cho đến nay vẫn được đánh giá là một đóng góp quan trọng cho sử học và văn học.

Theodor Mommsen
Theodor Mommsen (30/11/1817 – 1/11/1903). Ảnh: Wikipedia

Theodor Christian Matthias Mommsen sinh tại địa phận Garding thời đó thuộc Đan Mạch, con một vị linh mục Thanh giáo, người đã truyền lại cho con trai tình yêu văn học, ngôn ngữ. T. Mommsen học luật và văn học cổ tại Đại học Tổng hợp Kiel những năm 1838-1843, viết bản luận văn Các hội và hội đoàn La Mã (1843) được đánh giá tốt. Thời gian này ông in chung với em trai và một người bạn tập thơ đầu tiên Tập bài ca của ba người bạn. Được các giáo sư ủng hộ, T. Mommsen nhận học bổng sang Italia ba năm (1844-1847), là đại diện của Viện Hàn lâm Khoa học Berlin tại Pháp và Italia, nghiên cứu sách chép tay và văn bia, thu thập tài liệu cho công trình quan trọng Bộ tuyển văn bia Latin gồm 16 tập (in từ năm 1863 đến 1936). Về Đức năm 1848, ông trở thành giáo sư Luật học tại Đại học Tổng hợp Leipzig, nhưng năm 1850 bị sa thải vì tham gia cuộc Cách mạng 1848-1849. Những năm 1852-1854, ông giảng dạy tại Đại học Tổng hợp Zürich, 1854-1858 tại Đại học Tổng hợp Breslau; sau 1858 đến cuối đời là giáo sư tại Đại học Tổng hợp Berlin, chủ nhiệm khoa Lịch sử Cổ đại của trường. Ông là thư kí thường trực Viện Hàn lâm Khoa học và Nghệ thuật Phổ. Những năm 70 của thế kỉ XIX, T. Mommsen là thành viên tích cực và sáng giá của Quốc hội Phổ, là người kịch liệt chống đối đường lối đối nội của thủ tướng Bismarck.

Năm 1854, ông cưới vợ là con gái một nhà buôn sách, có 16 người con.

Mommsen đã viết một khối lượng tác phẩm khổng lồ (danh mục các công trình lớn nhỏ của ông lên đến con số 1513 tên gọi), đã cách mạng hóa việc nghiên cứu lịch sử La Mã, đặt nền móng cho việc nghiên cứu một cách có hệ thống chế độ quyền lực, kinh tế và tài chính của nhà nước La Mã. Công trình lớn nhất của ông là bộ Lịch sử La Mã, bắt đầu viết từ năm 1852, 3 tập đầu in trong các năm 1854, 1855, 1856, bao trùm lịch sử La Mã từ khởi thủy đến năm 46 tr.C.N, khi Caesar đánh tan quân đội Viện Nguyên lão ở Bắc Phi; tập 4 dự định viết về các hoàng đế La Mã, nhưng không được hoàn thành và xuất bản; còn năm 1885 ông in tập 5 của bộ sách là Các tỉnh thành La Mã, từ Caesar đến Diocletian.

Trong những năm đầu thế kỉ XX, nhà văn số một được đề cử tranh Giải Nobel Văn học là L. Tolstoi, nhưng do Ủy ban Nobel không chấp nhận một số quan điểm của nhà văn Nga vĩ đại này nên quyết định mở rộng phạm vi xét giải sang các tác phẩm lịch sử, kết quả là nhà sử học 85 tuổi T. Mommsen được nhận vinh dự này. Một năm sau đó ông qua đời.

Theodor Mommsen được coi là “điều kì diệu của nền khoa học Đức”, ông đồng thời còn vừa là nhà thơ, nhà luật học, nhà phê bình và nghệ sĩ – “ấn tượng, say mê, giàu trí tưởng tượng”.

Tượng Theodor Mommsen
Tượng Theodor Mommsen tại Berlin, Đức

Các tác phẩm của Theodor Mommsen

– Tập bài ca của ba người bạn (Liederbuch dreier Freunde, khoảng năm 1843), thơ.

– Các hội và hội đoàn La Mã (De collegns et sodaliciis Romanorum, 1843), khảo luận.

– Lịch sử La Mã (Römische Geschichte, 3 tập, 1854-1855,1885) [History of Rome].

– Bộ tuyển văn bia Latin (Corpus Inscriptionum Latinarum, 1862-1959).

– Luật pháp nhà nước La Mã (Römisches Staatsrecht, 3 tập, 1871-1888).

– Luật hình sự La Mã (Römisches Strafrecht, 1899).

– Các tỉnh thành La Mã, từ Caesar đến Diocletianus (Die provinzen, von Caesar bis Diocletian, 1885), là tập 5 của bộ Lịch sử La Mã.

Lời tuyên dương của Viện Hàn lâm Thụy Điển(1)

Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển
Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển – Wikipedia tiếng Việt

Mục hai trong quy chế Giải Nobel quy định rằng Văn học không chỉ bao gồm các tác phẩm văn chương, belles-lettres, mà còn “cả các tác phẩm viết khác mà nội dung và hình thức có giá trị văn chương”. Định nghĩa này chấp thuận việc trao giải thưởng Nobel Văn học cho cả các nhà triết học, nhà văn viết về chủ đề tôn giáo, các nhà khoa học và sử học, miễn là tác phẩm của họ tỏ ra xuất sắc về nghệ thuật thể hiện và có giá trị cao về nội dung.

Năm nay, Viện Hàn lâm Thụy Điển đã phải lựa chọn rất khó khăn trong số nhiều tên tuổi sáng chói được đề cử. Cuối cùng, Viện đã quyết định trao giải cho một trong những người lỗi lạc nhất, nhà sử học Theodor Mommsen, người được mười tám thành viên của Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Phổ đề cử.

Thư mục các tác phẩm đã được xuất bản của Mommsen do Zangemeister biên soạn nhân dịp sinh nhật lần thứ 70 của ông có tới 920 tác phẩm. Một trong những dự án quan trọng nhất của Mommsen là biên tập Bộ tuyển văn bia Latin (1862-1959), một công việc khổng lồ, dẫu rằng ông được sự giúp đỡ của các cộng tác viên uyên bác. Mặc dù không phải chỉ có một mình Mommsen đóng góp công sức và trí tuệ vào 15 tập sách, nhưng việc tổ chức toàn bộ công trình là một thành tựu có giá trị lâu dài của ông. Là một vị anh hùng thật sự trong số các học giả, Mommsen đã tiến hành những nghiên cứu độc đáo có tính khai phá về luật La Mã, văn khắc, nghề đúc tiền, niên đại lịch sử La Mã cũng như lịch sử La Mã nói chung. Ngay cả những nhà bình luận bất đồng ý kiến với ông cũng phải thừa nhận rằng ông có thẩm quyền để nói về văn khắc Iapygian, về một trích đoạn của Appius Caecus và về nông nghiệp ở Carthage. Những người có học thức chủ yếu biết đến ông qua tác phẩm Lịch sử La Mã (Römische Geschichte, 1854-1855,1885), và chính tác phẩm đồ sộ này đã khiến Viện Hàn lâm Thụy Điển quyết định trao giải thưởng Nobel Văn học cho ông.

Tác phẩm bắt đầu xuất hiện vào năm 1854. Tập IV vẫn chưa được xuất bản nhưng vào năm 1885, ông cho xuất bản tập V, một sự miêu tả tuyệt vời về tình trạng của các tỉnh dưới thời Đế chế, thời kì gần gũi với thời đại chúng ta đến nỗi những đoạn mô tả như thể được viết ra để áp dụng cho các lĩnh vực hoạt động gần đây được đề cập đến trong qui chế Giải Nobel. Người ta có thể sử dụng nó như là khởi điểm để đánh giá toàn bộ tác phẩm của nhà văn. Bộ Lịch sử La Mã của Mommsen đã được dịch sang rất nhiều thứ tiếng, được đánh giá cao bởi sự uyên thâm vừa bao trùm, vừa tỉ mỉ cũng như bởi phong cách hùng hồn và sống động của nó. Mommsen kết hợp kiến thức rộng lớn của mình với những đánh giá sắc bén, phương pháp chặt chẽ, nhiệt huyết trẻ trung và nghệ thuật thể hiện mà chỉ riêng nó đã đảm bảo cho sự mô tả trở nên sống động. Ông biết cách tách hạt gạo ra khỏi vỏ trấu, và thật khó để quyết định xem, giữa kiến thức khổng lồ, óc tổ chức, trí tưởng tượng trực giác và khả năng biến các dữ liệu thành một bức tranh sống động, điều gì ở ông khiến ta thán phục và đáng ca ngợi nhất. Trực giác và sức sáng tạo của ông đã xóa bỏ khoảng ngăn cách giữa một sử gia và một nhà thơ. Mommsen đã cảm nhận được mối quan hệ này khi ông nói, trong chương thứ V của bộ Lịch sử La Mã rằng, óc tưởng tượng là mẹ đẻ không chỉ của thơ ca mà cả lịch sử nữa. Thực tế, sự giống nhau là rất lớn. Tính khách quan tách biệt của Ranke là hồi ức tính vĩ đại âm thầm của Goethe, và nước Anh đã đúng khi mai táng Macaulay trong khu dành cho các nhà thơ của tu viện Westminter.

Chỉ bằng vài nét bút đậm, Mommsen đã miêu tả được tính cách của người dân La Mã và cho thấy sự phục tùng của người La Mã đối với đất nước gắn liền với sự phục tùng của con cái đối với cha mẹ. Nhờ những kĩ năng phi thường, ông đã vẽ nên bức tranh khổng lồ về tiến trình phát triển La Mã từ khởi thủy đến khi họ thống trị thế giới. Ông cũng chỉ ra, cùng với sự phát triển của Đế quốc, những định chế cũ kĩ, bảo thủ một cách bướng bỉnh, đã bị lạc hậu trước những nhiệm vụ mới mẻ. Quyền tối cáo của Đại hội Quốc dân dần dần đã trở thành hư ảo và chỉ còn những kẻ mị dân sử dụng một cách ngẫu nhiên nhằm thực hiện mục đích của họ. Rồi Viện Nguyên lão đã quan tâm đến các vấn đề công cộng một cách chính trực như thế nào, nhưng tầng lớp quý tộc đầu sỏ, từng phục vụ cho mục đích của nó, đã thôi đáp ứng yêu cầu mới. Chủ nghĩa tư bản thiếu lòng yêu nước đã lạm dụng quyền lực của mình để đầu cơ chính trị, và sự biến mất của tầng lớp nông dân tự do đã gây ra những hậu quả kinh khủng như thế nào cho sự thịnh vượng chung. Ông cũng chứng minh rằng việc thường xuyên thay đổi quan chấp chính đã cản trở việc chỉ đạo chiến tranh một cách nhất quán và thích hợp, điều này dẫn đến sự chậm trễ của các mệnh lệnh quân sự. Đồng thời, ông cũng chứng minh rằng các tướng lĩnh ngày càng trở nên độc lập và chế độ độc tài quân sự là cần thiết vì rất nhiều lý do, nhưng đặc biệt vì thiếu các cơ quan tương xứng với đòi hỏi Đế chế lúc bấy giờ, và chính thể chuyên chế trong rất nhiều trường hợp đã gây ra ít khó khăn hơn là qui định của chính thể của một nhóm đầu sỏ. Vẻ trang nghiêm giả tạo hoàn toàn tiêu biến trước con mắt không nhượng bộ của nhà sử học, hạt gạo đã được tách ra khỏi vỏ trấu, cũng giống như Caesar mà ông hằng ngưỡng mộ, Mommsen có một cặp mắt tinh tường về những nhu cầu thực tế và hoàn toàn không bị trói buộc bởi những ảo ảnh, điều ông ca ngợi ở những người chinh phục xứ Gaul.

Nhiều nhà bình luận đã phê phán Mommsen bị tài năng bẩm sinh lôi cuốn tới những kết luận cảm tính, nhất là trong những đánh giá thường không mấy thiện chí liên quan đến những người cuối cùng ủng hộ nền tự do đang hấp hối, những người chống đối Caesar và những người đang còn lưỡng lự giữa hai phái trong suốt thời kì khó khăn này. Nhiều người phê phán, và có lẽ không phải lúc nào cũng hoàn toàn thiếu công bằng, rằng sự ngưỡng mộ của Mommsen trước quyền lực của thiên tài, thậm chí cả khi họ phá vỡ luật lệ, cũng như tuyên bố của ông rằng lịch sử không có sự phán xét nào cho hành động đại phản nghịch, một nhà cách mạng có thể là một chính khách nhìn xa trông rộng và đáng được ngợi ca. Mặt khác, cần nhấn mạnh rằng Mommsen không bao giờ ca ngợi sức mạnh tàn bạo, ông chỉ ca ngợi sức mạnh phục vụ cho những mục đích cao cả của quốc gia, và chúng ta phải ghi nhận lời kết tội đanh thép của ông, đó là “ca ngợi cái đã mục nát do tội lỗi xấu xa chống lại tinh thần thiêng liêng của lịch sử”. Cũng phải thấy rằng Mommsen đôi khi sử dụng những thuật ngữ hiện đại vào các văn cảnh cổ xưa, dù chúng không hẳn không phù hợp (ví dụ Junkertum, Roman Coblenz, Camarilla, Lanzknechte, Marschọlle, Sbirren, v.v…). Nhưng phương pháp nhấn mạnh sự tương đồng giữa các hiện tượng lịch sử thuộc những thời đại khác nhau như vậy không phải do trí tưởng tượng của Mommsen, mà là sản phẩm của sự học tập, vốn chứa đựng nhiều điều giống nhau trong các giai đoạn lịch sử khác nhau. Nếu cách làm đó thêm thắt quá nhiều màu sắc vào lời văn thì nó cũng khiến cho lời văn thêm sinh động. Cũng phải nói thêm rằng Mommsen không phải là một nhà duy vật lịch sử. Ông ngưỡng mộ Polybius, nhưng ông cũng phê phán nhà sử học Hi Lạp đã không nhận ra sức mạnh đạo đức của con người và có một Weltanschauung – một cách nhìn thế giới – quá máy móc. Về C. Gracchus, một nhà cách mạng gợi cho ông nhiều cảm hứng mà đôi khi ông ủng hộ, đôi khi lại chê trách, Mommsen nói rằng mọi quốc gia đều được xây dựng trên cát nếu như kẻ thống trị và người bị thống trị không được liên kết với nhau bởi một tinh thần đạo đức chung. Với ông, cuộc sống gia đình hạnh phúc là hạt nhân của quốc gia. Ông cũng lên án mạnh mẽ chế độ nô lệ đáng nguyền rủa của người La Mã và ông thấy rằng khi gặp thảm họa thì một dân tộc có sức sống sẽ được củng cố thêm về mặt tinh thần, và có một chân lí mang tính sư phạm trong lời nói của ông, rằng nền tự do của Athens được sinh ra từ ngọn lửa mà người Ba Tư dùng để tàn phá Acropolis, cũng vậy, nước Italia ngày nay thống nhất nhờ những đám cháy mà người Gaulois gây ra ở Roma.

Là người học rộng, sắc sảo và năng nổ, Mommsen đã làm sáng tỏ nhiều vấn đề đối nội và đối ngoại, về tôn giáo, văn học, tài chính và tập quán ở La Mã. Cách trình bày của ông thật tuyệt diệu. Không độc giả nào có thể quên những đoạn ông tường thuật các trận đánh ở hồ Trasimene, ở Cannae, Aleria và Pharsalus. Những nét phác họa tính cách nhân vật cũng vô cùng sống động. Chỉ cần qua vài nét phác thảo rõ ràng và sắc bén, chúng ta đã có thể nhận ra diện mạo của “ngòi nổ chính trị” C. Gracchus, của Marius trong thời kì cuối cùng, “khi mà sự điên rồ trở thành quyền lực và để khỏi chóng mặt người ta chọn cách đâm đầu xuống vực sâu”, và đặc biệt là của Sulla, một chân dung vô tiền khoáng hậu đã được đưa vào hợp tuyển văn học, của Caesar Julius vĩ đại – thần tượng La Mã của Mommsen, của Hannibal, Scipio Africanus, người thắng trận của Zama. Đó là chưa kể các nhân vật ít tiếng tăm hơn nhưng đều được miêu tả một cách rõ nét bằng bàn tay nghệ sĩ bậc thầy.

Về lối miêu tả sinh động này, nhà sử học Treischke nói rằng Lịch sử La Mã là bộ lịch sử tinh tế nhất của thế kỷ XIX, rằng Caesar và Hannibal của Mommsen sẽ thôi thúc lòng nhiệt tình của mọi thanh niên, mọi người lính trẻ.

Người ta có thể thấy ở Mommsen sự kết hợp đáng ngạc nhiên những phẩm chất khác nhau. Là một học giả uyên thâm, một người có khả năng phân tích tỉnh táo, ông đồng thời cũng đầy cảm hứng khi nhận định. Bằng kiến thức sâu rộng của mình, ông miêu tả rất chi tiết công việc nội bộ của chính phủ và tính phức tạp của kinh tế, nhưng những cảnh chiến trận và các phác họa nhân vật của ông cũng vô cùng xuất sắc. Có lẽ bởi ông trước hết là một nghệ sĩ, và tác phẩm Lịch sử La Mã của ông trước hết là một tác phẩm nghệ thuật phi thường. Văn học, loài hoa cao quý của nền văn minh ấy, được nhắc đến sau cùng trong di chúc của Nobel, còn Mommsen thì sẽ luôn luôn nằm trong số những đại diện hàng đầu của nó. Khi đưa tập đầu tiên của Lịch sử La Mã tới nhà xuất bản, ông viết, “một khối lượng công việc khổng lồ”, còn nhân dịp kỉ niệm lần thứ 15 ngày nhận học vị tiến sĩ, ông nói say sưa về đại dương tri thức không bờ bến. Nhưng khi tác phẩm hoàn thành, lao động, dù có lớn lao đến đâu cũng bị lu mờ, giống như trong mọi tác phẩm nghệ thuật đích thực có được hình thái phù hợp với tính chất của nó. Người đọc được đi trên nền đất vững vàng, không bị cản trở bởi những cơn sóng dữ. Tác phẩm vĩ đại hiện diện trước ta như được đúc bằng kim loại. Trong bài diễn văn khai mạc tại Cambridge, ngài Acton đã gọi Mommsen là một trong những nhà văn vĩ đại nhất hiện nay, và đặc biệt từ quan điểm như vậy, Mommsen xứng đáng được nhận giải thưởng văn học to lớn. Lần xuất bản mới nhất bằng tiếng Đức tác phẩm Lịch sử La Mã vừa được hoàn thành. Không phải sửa chữa, tác phẩm vẫn giữ được tính mới mẻ của nó, đó là một tượng đài, tuy không có vẻ đẹp mịn màng của đá cẩm thạch, nhưng lại bền vững như đồng. Bàn tay của nhà học giả có thể dễ dàng cảm nhận ở khắp mọi nơi, và bàn tay của nhà thơ cũng vậy. Trên thực tế, Mommsen đã làm thơ từ khi còn trẻ. Cuốn Tập bài ca của ba người bạn (Liederbuch dreier Freunde, 1843) là một bằng chứng cho thấy rằng ông có thể trở thành nô lệ của Nàng Thơ, nói theo cách của chính ông, nếu như hoàn cảnh không dẫn dắt đến “những gì gắn liền với văn xuôi/ không phải nụ nào cũng thành đóa hoa hồng”. Nhà sử học Mommsen là bạn của Theodor Storm và là người ngưỡng mộ Mửrike. Những năm trước đó, ông đã dịch hai nhà thơ Italia là Carducci và Giacosa.

Khoa học và nghệ thuật thường có khả năng giữ cho những người hoạt động trong các lĩnh vực đó một tâm hồn tươi trẻ. Vừa là học giả vừa là nghệ sĩ, ở tuổi 85, Mommsen vẫn còn rất trẻ trung trong tác phẩm của mình. Ngay cả khi đã già, vào cuối năm 1895, ông vẫn có những đóng góp hết sức giá trị cho Viện Hàn lâm Khoa học Phổ.

Huy chương của giải thưởng Nobel Văn học có hình một người trẻ tuổi đang lắng nghe những cảm hứng của Nàng Thơ. Mommsen là một ông già mang trong mình ngọn lửa của tuổi trẻ, và hiếm người nhận ra một cách rõ ràng như khi đọc Lịch sử La Mã của Mommsen, rằng Clio là một trong những Nàng Thơ. Ví dụ hoàn toàn có thật trong lịch sử này khuấy động nhiệt tình của chúng ta khi chúng ta còn trẻ và đến nay nó vẫn giữ nguyên sức mạnh trong trí óc chúng ta, ta nhận ra điều đó khi đọc lại vào tuổi xế chiều. Đó chính là sức mạnh của kiến thức lịch sử khi nó được kết hợp với một nghệ thuật bậc thầy.

Với tất cả những lý do vừa nói trên đây, chúng tôi xin gửi tới Mommsen lòng kính trọng từ đất nước của Erik Gustaf Geijer(2).

Tại sao một nhà sử học lại được trao giải Nobel văn học?

Theodor Mommsen là người nhận Giải Nobel Văn học nhưng lại không phải là nhà văn, ít ra là theo cách hiểu thông thường. “Trường hợp đặc biệt” đầu tiên đã diễn ra ngay ở năm thứ hai trao giải này- năm đầu tiên trao giải là 1901, với tác giả Sully Prudhomme, người đầu tiên được trao Giải Nobel Văn học. Người ta đồn đoán rằng, vì để tránh khỏi trao giải cho nhà văn Nga L. Tolstoi, tác giả của bộ tiểu thuyết vĩ đại Chiến tranh và Hòa bình nhưng lại có những quan điểm mà những người xét giải không chấp nhận.

Ủy ban Nobel đã mở rộng phạm vi xét giải sang lĩnh vực các công trình khảo cứu lịch sử. Và người được lựa chọn là nhà Theodor Mommsen  khi ấy đã 85 tuổi, đến nay là người cao tuổi thứ hai khi nhận Giải Nobel Văn học, sau D. Lessing, 87 tuổi. Theodor Mommsen có hành trang văn chương là một tập thơ viết chung với em trai và người bạn trước đấy hơn 60 năm và một khối lượng đồ sộ các công trình nghiên cứu lịch sử La Mã cổ đại.

Xem Thêm : Những tri thức, nhà văn, tác giả thế giới sinh vào tháng 3

Tân Đôn dịch từ bản tiếng Anh
Ngô Tự Lập hiệu đính
(Nguồn: http://nobelprize.org)
© Culture Globe

Ghi chú:

(1) Do C. D. af Wirsén, Thư kí thường trực Viện Hàn lâm Thụy Điển đọc tại buổi lễ trao Giải.

(2) Tại buổi chiêu đãi, C.D af Wirsén phát biểu bằng tiếng Đức, ca ngợi “bậc thầy về nghệ thuật thể hiện lịch sử”, và, nhân danh Viện Hàn lâm Thụy Điển, ông mời những người có mặt nâng cốc chúc mừng “người thầy vĩ đại của ngành sử học Đức”. Vì Theodor Mommsem vắng mặt, ngài Công sứ Đức, Bá tước Von Leyden, đã thay ông đọc lời đáp.

Nguồn: https://luanvan247.net
Danh mục: Tác giả

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button