Tác giả

William Yeats, tác giả của những vần thơ điêu luyện

William Yeats (13/06/1865 – 28/01/1939) được trao giải Nobel Văn Học 1923 nhờ sự nghiệp sáng tác thơ, kịch, tiểu thuyết. Ông là người đề xướng ra phong trào Phục hưng văn hóa Ireland, tác giả của những vần thơ điêu luyện mang tinh thần dân tộc và truyền thống đặc sắc, tái hiện một thế giới cổ xưa với trí tưởng tượng bay bổng và tình yêu đối với những người đàn ông mạnh mẽ và những phụ nữ xinh đẹp; ông cũng có những đóng góp to lớn cho nền sân khấu dân tộc Ireland.

Xem thêm: Carl Spitteler – bậc thầy của thơ trữ tình triết lí

William Yeats
William Yeats (13/06/1865 – 28/01/1939)

Tiểu sử

William Butler Yeats xuất thân trong gia đình theo đạo Tin Lành, cha là luật sư đồng thời là một họa sĩ nổi tiếng, mẹ là con nhà buôn bán. Ông học ở Dublin và Oxford (London). Thời trẻ ông hoạt động xã hội rất tích cực, sớm tham gia vào làng văn học Ireland, thành lập Hội Văn học Ireland tại Anh, gia nhập phong trào Phục hưng Văn học Ireland, cùng I. A. Gregory thành lập nhà hát Ireland để những nhà viết kịch có nơi diễn tác phẩm của mình. Năm 1921, ông cùng B. Shaw đặt cơ sở cho Viện Hàn lâm Văn học Ireland.

Yeats viết thơ từ năm 1882, ba năm sau bắt đầu xuất hiện rải rác trên tạp chí của trường Đại học Dublin. Năm 1889, ông xuất bản tập thơ đầu tiên Những cuộc viễn du của Oisin và các bài thơ khác. W. Yeats làm thơ theo khuynh hướng biểu tượng và lãng mạn trữ tình, đề tài thường dựa vào những truyện thần thoại ở xứ sở ông, chịu ảnh hưởng của Maeterlinck và Swinburne, thi hứng mang nặng tính chất thần bí. Cũng trong thời gian này, ông bắt đầu sự nghiệp viết kịch. Vở kịch đầu tay Nữ bá tước Cathleen (1892) cùng với vở kịch hay nhất của W. Yeats là Cathleen con gái Honlihan (1902) được ông viết tặng người yêu, nữ chiến sĩ đấu tranh cho nền độc lập Ireland, nghệ sĩ nổi tiếng Maud Gonne. Những vở kịch của ông thường hòa quyện yếu tố dân gian với những yếu tố huyền bí, điều này phản ánh sự ham mê của ông đối với chủ nghĩa thần bí và thuyết duy linh.

Sau năm 1910, các vở kịch nghệ thuật của W. Yeats chuyển hướng đột ngột sang viết bằng thơ, phong cách bí ẩn, có nhiều khoảng trống. Những vở kịch sau đó (ông viết cho số ít khán giả chọn lọc) là những thử nghiệm với vũ điệu, âm nhạc và chịu ảnh hưởng sâu sắc từ những vở kịch Noh của Nhật Bản. Từ năm 1922 đến năm 1928, W. Yeats là thượng nghị sĩ của Nhà nước Ireland tự do, tham gia nhiều hoạt động chính trị ở Ireland, sáng tác của ông thời kì này mất dần tính lãng mạn và trở nên thâm trầm, sâu sắc. Hai tác phẩm đáng chú ý cuối cùng của ông là Rằm tháng Ba (1935) và Những bài thơ và những vở kịch cuối cùng (1940).

Trong những năm 1920 – 1930, W. Yeats nổi lên như một trong những nhà thơ hàng đầu ở Châu Âu. Năm 1923, ông được tặng thưởng Giải Nobel vì sự nghiệp sáng tác phản ánh cao độ tinh thần dân tộc trong những tác phẩm điêu luyện. W. Yeats đến dự lễ trao giải và đọc bài diễn văn Phong trào kịch Ireland (The Irish Dramatic Movement). Ngoài Giải Nobel, W. Yeats còn nhận được bằng danh dự của các trường Đại học Dublin, Oxford…

Đầu năm 1939, W. Yeat mất ở miền Nam nước Pháp, nơi ông đến tránh mùa đông Ireland khắc nghiệt. Chín năm sau, hài cốt của ông mới được các sĩ quan hải quân Ireland đưa về quê.

Đánh giá của Viện Hàn lâm Thụy Điển(1):

Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển
Viện Hàn lâm Khoa học Hoàng gia Thụy Điển – Wikipedia tiếng Việt

Từ rất sớm, ngay trong độ tuổi thanh xuân tươi đẹp nhất, William Butler Yeats đã nổi lên như một nhà thơ đích thực, không cần bàn cãi theo đúng nghĩa của từ này. Tiểu sử của ông cho chúng ta biết về những thôi thúc nội tâm của nhà thơ đã xác định mối liên hệ của ông với thế giới bên ngoài ngay từ khi ông còn là một cậu bé con. Đường hướng sáng tác của ông đã được phát triển một cách tự nhiên theo đúng thiên hướng mà đời sống tình cảm và tinh thần gợi ra ngay từ ban đầu.

Yeats sinh trưởng trong một gia đình hoạt động nghệ thuật ở Dublin, cho nên cái đẹp đã tự nhiên trở thành nhu cầu thiết yếu của cuộc đời ông. Ông đã sớm bộc lộ năng khiếu nghệ thuật và được tập trung giáo dục để phát triển thiên hướng đó, mà chỉ dành một ít nỗ lực để đảm bảo những bài học trong nhà trường truyền thống. Ông học tập phần lớn ở Anh, quê hương thứ hai của ông. Hầu như nền giáo dục mà ông nhận được là của đất nước này. Tuy thế, sự phát triển quyết định trong sự nghiệp ông là ở mối liên hệ với Ireland mà chủ yếu là với vùng Celtic thuộc xứ Connaught – nơi  gia đình ông có một ngôi nhà nghỉ mùa hè. Chính tại đây, ông đã hấp thụ được sự huyền bí, giàu tưởng tượng phong phú của tín ngưỡng cùng các câu chuyện dân gian, vốn là đặc trưng nổi bật của người dân nơi đây. Và giữa thiên nhiên hoang sơ của núi đồi, biển cả, ông đã say sưa trong một nỗ lực đầy đam mê để nắm bắt cho được cái hồn của thiên nhiên đó.

Đối với ông, cái hồn của thiên nhiên không phải là một cụm từ rỗng tuếch, bởi theo thuyết phiếm thần luận của người Celtic mà hầu hết con người nơi đây đều tin theo, thì ẩn sau thế giới của các hiện tượng là những lực sống mang tính người. Niềm tin này đã thu hút trí tưởng tượng của Yeats và nuôi dưỡng nhu cầu tín ngưỡng bẩm sinh mạnh mẽ trong con người ông. Và trong sự quan sát nhiệt tình đời sống của thiên nhiên với một tinh thần khoa học của thời đại mình, Yeats đã say sưa với điệp khúc của tiếng chim hót bình minh và đường lượn của đàn bướm đêm khi những ngôi sao bắt đầu ló dạng. Ông đã tiến xa đến mức quen thuộc với nhịp điệu biến thiên của trái đất quay xung quanh mình và có thể phán đoán chính xác thời gian thông qua những dấu hiệu của tự nhiên. Bằng sự thấu cảm với những thanh âm của ngày và đêm, thơ ca của ông về sau đã mang nhiều nét quyến rũ mê hồn đó.

Khi vừa trưởng thành, ông đã từ bỏ việc học những môn khác để hiến mình cho thi ca, nghệ thuật mà ông có thiên hướng mạnh mẽ nhất. Tuy nhiên, những gì thu nhận được từ khoa mĩ thuật rõ ràng cũng đã ảnh hưởng đến toàn bộ sự nghiệp của ông về sau này, cả về mức độ ông tán dương hình thức và phong cách cá nhân, và còn hơn thế, cả trong những giải pháp táo bạo, đầy nghịch lí, ở đó, những suy luận triết học sắc bén nhưng chắp vá đã giúp ông tìm kiếm ra con đường mà ông cần cho việc phát huy những thiên bẩm đặc thù của mình.

Yeats bước vào con đường văn chương khi ông đến định cư tại London vào cuối những năm 1880. Tuy thế giới này không đem lại cho ông nhiều điều tích cực nhưng ít nhất nó cũng đem lại cho ông những người bạn cùng chung chí hướng phản kháng, đây là nét đáng mến đặc biệt của tuổi trẻ ưa gây gổ. Thế giới đó đầy những chán chường và nổi loạn chống lại tinh thần của thời đại đang thịnh hành, cụ thể là chống lại khoa học tự nhiên giáo điều và nghệ thuật tự nhiên chủ nghĩa. Yeats là một trong những người chống đối kịch liệt nhất. Ở ông, trực giác sâu sắc được kết hợp với nhãn quan thấu thị và duy linh không thể nào khuất phục.

Yeats bất bình trước thái độ ngạo mạn của khoa học tự nhiên và sự hạn hẹp của thứ nghệ thuật mô phỏng nguyên xi cuộc sống. Hơn thế, ông kinh sợ trước sự bế tắc về nhân cách và tính lãnh đạm của chủ nghĩa hoài nghi, sự khô cằn ý tưởng và cuộc sống nội tâm trong một thế giới chỉ có một niềm tin vào cuộc hành hương chung đến vùng đất thánh Cockaigne. Những sự kiện thực tế đã minh chứng là ông hoàn toàn đúng: làm sao chúng ta có thể đến được thiên đường chỉ bằng tinh thần nhân văn trong giáo dục mà chúng ta hiện đang được hưởng.

Ngay cả những kiểu mẫu đẹp đẽ hơn của chủ nghĩa xã hội không tưởng mà đại diện là nhà thơ được xưng tụng William Morris, cũng không quyến rũ được chàng Yeats trẻ tuổi. Về sau, ông đã tìm ra được con đường đến với dân tộc mình, không phải là một khái niệm trừu tượng mà là một dân tộc Ireland cụ thể mà ông đã gắn bó từ khi còn nhỏ. Điều mà ông tìm kiếm ở họ không phải là một mớ hỗn độn rối tung bởi những nhu cầu hiện đại mà là tâm hồn họ được phát triển theo sử lịch mà ông hi vọng sẽ nâng lên thành một cuộc sống có ý thức hơn.

Trong sự băn khoăn của trí thức ở London, những cái thuộc về dân tộc Ireland vẫn còn y nguyên trong tim Yeats. Tình cảm này được nuôi dưỡng thêm khi ông về thăm đất mẹ vào mùa hè và nghiên cứu toàn diện văn hóa dân gian, những phong tục tập quán nơi đây. Những bài thơ trữ tình thời kỳ đầu của ông hoàn toàn dựa trên những ấn tượng này.

Những bài thơ đầu tay của ông ngay lập tức được đánh giá rất cao ở Anh vì thi liệu mới mẻ với khả năng lôi cuốn trí tưởng tượng mạnh mẽ, được thể hiện dưới một hình thức tuy mang những đặc trưng riêng vẫn có sự kết nối mật thiết với những truyền thống cao quý nhất của nền thơ ca Anh. Sự phối hợp giữa chất Ireland và chất Anh vốn chưa bao giờ có hiệu quả trên chính trường lại trở thành hiện thực trong thế giới tưởng tượng của thơ ca. Đây là một dấu hiệu kỳ diệu có tầm quan trọng tinh thần.

Tuy Yeats đã học hỏi nhiều từ những bậc thầy văn chương Anh nhưng thể thơ của ông có một đặc điểm mới. Ngữ điệu và sắc thái đổi thay, như thể chúng được thay bằng một bầu không khí mới – bầu không khí của ánh hoàng hôn Celtic lấp lánh bên bờ biển.  Thơ ông pha nhiều lời ca hơn so với thơ ca Anh hiện đại. Âm nhạc u sầu hơn và dưới nhịp điệu hài hòa, những vần thơ tự do di chuyển như kẻ mộng du, gợi chúng ta liên tưởng đến một giai điệu khác như hơi thở nhẹ nhàng của gió và nhịp điệu bất diệt của những lực tự nhiên.

Khi nghệ thuật này đạt đến đỉnh điểm, nó sẽ trở nên huyền bí nhưng điều này thật khó nắm bắt. Nó thường mơ hồ đến mức phải nỗ lực lắm mới có thể hiểu được. Sự mơ hồ này nằm trong sự thần bí của chủ đề nhưng có lẽ phần nhiều do khí chất của người Celtic, cái khí chất trong đó cảm hứng bốc lửa, nhạy cảm và minh mẫn nổi trội hơn là sự rõ ràng. Nhưng góp phần không nhỏ ở đây có thể còn có những khuynh hướng của thời đại như chủ nghĩa tượng trưng và nghệ thuật vị nghệ thuật, vốn chuyên chú vào việc tìm kiếm những từ ngữ thích đáng táo bạo.

Mối liên hệ của Yeats với cuộc sống dân tộc đã cứu thoát ông khỏi sự cằn cỗi mà những nhà văn tha phương như ông vẫn thường mắc phải khi cố công đi tìm cái đẹp. Ông trở thành tâm điểm và người lãnh đạo của nhóm những người đồng hương thuộc giới văn chương ở Anh quốc vây quanh ông trong một phong trào mang tên “Sự hồi sinh của người Celtic”, và đã tạo ra một nền văn học dân tộc mới, văn học Anh – Ireland.

Hầu hết những bài thơ quan trọng và sống động nhất của nhóm này là của Yeats. Nhân cách và tài năng của ông đã làm cho phong trào phát triển và nở hoa nhanh chóng, bằng cách đưa ra một đường hướng chung cho những lực lượng lúc đó còn phân tán và khuyến khích những lực lượng khác trước đây còn chưa ý thức về sự tồn tại của chính mình.

Và rồi sân khấu Ireland cũng đã ra đời. Sự cổ động nhiệt thành của Yeats đã tạo ra cả sàn diễn lẫn công chúng và cuộc trình diễn đầu tiên là vở kịch Nữ bá tước Catheleen của Yeats vào năm 1892. Tác phẩm mang đậm chất thơ này mở đầu cho một chuỗi những vở kịch thơ khác, tất cả đều tập trung khai thác chủ đề của người Ireland dưới dạng những thiên tiểu thuyết anh hùng ca.

Các tác phẩm tuyệt vời nhất trong số đó là: Deirdre (1907), một bi kịch đau thương về cô gái Helen người Ireland; Chiếc mũ màu xanh (1910), một thiên anh hùng ca huyền thoại về vùng hoang vu nguyên thủy và trên tất cả là Trước cửa vua (1904), trong vở kịch này những chất liệu đơn sơ thấm đượm một tư tưởng rộng lớn và sâu sắc hiếm có. Cuộc tranh cãi về vai trò và địa vị của nhà thơ nơi triều đình đã đưa ra một vấn đề luôn nóng hổi về những giá trị tinh thần cần được gìn giữ thế giới của chúng ta, và niềm tin mà chúng ta có là đúng đắn hay sai lầm.

Với những đòi hỏi mà nhân vật đã đặt cược mạng sống của mình, bằng những vần thơ trác tuyệt, nhà thơ bảo vệ tất cả những gì làm cho cuộc sống con người trở nên đẹp đẽ và đáng sống. Không phải ai đưa ra những đòi hỏi đó đều trở thành nhà thơ nhưng Yeats đã làm được. Chủ nghĩa lý tưởng trong ông chưa bao giờ bị lu mờ, sự nghiêm nhặt trong tác phẩm của ông cũng vậy. Trong những vở kịch này, thơ của ông đã đạt được sự rõ ràng và vẻ đẹp hiếm thấy về phong cách.

Tuy nhiên, tác phẩm làm chúng ta say mê nhất trong văn nghiệp của ông là Xứ sở ham muốn của con tim (1894), đây là kết tinh của tất cả ma lực nghệ thuật thơ ca và sự tươi mới của mùa xuân trong một giai điệu sáng rõ ràng nhưng lại mơ hồ như giấc mộng. Đây là một trong những tác phẩm tuyệt vời nhất của ông, nó tựa như một bông hồng quý giá cho sự nghiệp thơ ca của ông. Ngoài ra,  cũng phải kể đến tác phẩm kịch văn xuôi Catheleen con gái Hoolihan (1902), đây là một vở kịch dân gian giản dị nhất và là tác phẩm cổ điển hoàn hảo nhất của ông.

Cảm xúc yêu nước trong tác phẩm này của ông quả là mãnh liệt chưa từng có. Chủ đề xuyên suốt chính là cuộc đấu tranh giành tự do của người Ireland qua bao thời đại và nhân vật chính là nước Ireland được hóa thân thành một góa phụ hành khất lang thang. Nhưng ở đây chúng ta không nghe thấy một giọng điệu hận thù đơn thuần mà chất bi thảm sâu xa được dồn nén hơn bất cứ tác phẩm thơ nào khác có thể so sánh với nó. Chúng ta chỉ nhận ra những tình cảm dân tộc tinh khiết nhất và cao quý nhất. Ngôn từ kiệm ước và hành động tiết giảm đến mức có thể. Tất cả thật tuyệt vời mà không có sự điểm phấn tô son nào. Chủ đề này, đến với Yeats trong một giấc mơ, đã giữ lại dấu ấn hư ảo của một món quà từ Thượng đế. Và đây là khái niệm không xa lạ gì trong triết học thẩm mỹ của Yeats.

Chúng ta còn có thể nói nhiều nữa về sáng tác của Yeats nhưng chỉ cần đề cập đến đường hướng của những vở kịch trong những năm gần đây của ông. Thường chúng đều mang tính lãng mạn do chất liệu lạ lùng và hiếm thấy nhưng nhìn chung vẫn thiên về hình thức đơn giản cổ điển. Nét cổ điển này đã dần phát triển thành nghệ thuật cổ táo bạo. Chúng ta nhận thấy nhà thơ đang nỗ lực đạt đến tính tạo hình nguyên thủy trong buổi ban đầu của nghệ thuật sân khấu.

Ông đã dành rất nhiều tinh lực của mình để thực thi nhiệm vụ giải phóng bản thân khỏi sân khấu hiện đại với những cảnh diễn làm xáo trộn bức tranh được gợi lên bởi trí tưởng tượng, với nét đặc trưng là dãy đèn sân khấu để cường điệu, với những đòi hỏi của khán giả về một ảo tưởng hiện thực. Yeats cho thơ ca như là thị kiến của nhà thơ, ông đã chọn hình thức cho thị kiến của mình theo như kiểu mẫu người La Mã và Nhật Bản. Vì thế, ông đã hồi sinh việc sử dụng mặt nạ và tìm ra mảnh đất tuyệt vời hơn cho việc diễn tả điệu bộ của diễn viên bằng một dàn hợp xướng những bài nhạc đơn giản.

Bởi thế, trong những tác phẩm giản dị và có phong cách nghệ thuật đơn nhất đó, với đề tài rút ra từ những huyền thoại anh hùng của Ireland, đôi khi Yeats đã đạt đến mức độ mê hoặc ngay cả đối với độc giả chỉ đọc văn bản, cả ở những lời thoại súc tích cao độ cũng như trong những đoạn hợp xướng với âm điệu trữ tình sâu sắc. Tuy nhiên, tất cả những điều này vẫn đang ở trong giai đoạn hình thành và chúng ta vẫn chưa thể đưa ra phán quyết xem những gì đạt được đã bù đắp cho những nỗ lực hay chưa. Những tác phẩm này, dù chúng rất đáng cho chúng ta lưu ý, vẫn khó đến được với công chúng hơn là những tác phẩm trước kia của ông.

Trong những vở kịch này cũng như trong những vần thơ trữ tình đẹp đẽ và trong sáng nhất của mình, Yeats đã đạt được điều mà chỉ có rất ít nhà thơ làm được: ông đã thành công trong việc lưu giữ mối quan hệ với dân tộc mình mà vẫn có được thứ nghệ thuật đậm nét quý tộc. Sáng tác của ông được phát triển trong một môi trường nghệ thuật đặc biệt đầy bất trắc, nhưng tuy không từ bỏ những dòng viết về cái đẹp, nhiệt tình tìm kiếm hướng tới lý tưởng của ông đã được đào luyện để không rơi vào cái vỏ bề ngoài trống rỗng. Yeats đã có thể theo đuổi cái tinh thần từng sớm chọn ông làm người phát ngôn cho đất nước mình, một đất nước đã từ lâu đợi chờ ai đó đem đến cho nó một tiếng nói. Thật không quá chút nào khi gọi một sự nghiệp như vậy là vĩ đại.

Quan điển nghệ thuật của William Yeats (2):

William Butler Yeats
William Butler Yeats

Phong trào kịch ở Ireland(3)

Tôi chọn một đề tài như vậy vì khi nhớ đến cái vinh dự lớn lao mà các ngài đã trao cho, tôi không thể quên nhiều người tôi biết và không biết. Có lẽ các ủy ban của Anh sẽ không bao giờ gửi tới các ngài cái tên của tôi nếu như tôi không viết một vở kịch nào, không có những bài phê bình kịch, nếu như thơ ca trữ tình của tôi không có khả năng chuyển thể thành kịch bản sân khấu, có lẽ ngay cả nếu như thơ của tôi không phải là biểu trưng của một phong trào, tuy việc này có thể không hề có trong chủ ý của họ. Tôi muốn nói với Viện Hàn lâm Thụy Điển về công sức lao động, những thành công và những phiền muộn của các đồng nghiệp của tôi.

Văn học hiện đại Ireland, và thật sự là những sự chao đảo tư tưởng – cái chuẩn bị cho cuộc chiến tranh Anh – Ireland, được bắt đầu khi Parnell bị mất quyền lực năm 1891. Đất nước Ireland thất vọng và cay đắng quay lưng lại với đường lối chính trị nghị viện; một sự kiện đã được thai nghén và cuộc chạy đua bắt đầu, theo tôi nghĩ, cuộc chạy đua này bị cản trở bởi sự kiện kia thai nghén quá lâu. Tiến sĩ Hyde đã lập ra Liên đoàn Gaelic(4), tổ chức này trong nhiều năm đã lấy một cuốn ngữ pháp Gaelic thay thế cho các khảo luận chính trị, lấy những cuộc hội họp ở làng quê, nơi các bài ca và chuyện kể đều được diễn đạt bằng tiếng Gaelic, thay thế cho các cuộc hội họp chính trị. Trong khi đó, tôi đã phát động một phong trào nói tiếng Anh, thứ ngôn ngữ được người dân Ireland hiện đại dùng để tư duy và để tiến hành các hoạt động kinh doanh, lập ra các hội mà ở đó những nhân viên văn phòng, dân lao động, những con người thuộc đủ mọi tầng lớp, đều có thể tìm hiểu về các nhà thơ, nhà văn hoặc các nhà sử học Ireland đã viết tác phẩm bằng tiếng Anh, cũng như các tác phẩm văn học Ireland đã được dịch sang tiếng Anh. Nhưng phần đông người dân Ireland đã quen với những bài diễn văn chính trị tràng giang đại hải nên họ đọc rất ít, vậy là ngay từ đầu chúng tôi đã cảm thấy cần phải có một nhà hát riêng của chính chúng tôi. Các nhà hát ở Dublin chẳng còn gì thuộc về chúng để chúng tôi có thể nhận đó là cái của mình. Chúng chỉ là những tòa nhà trống rỗng để cho các công ty du lịch của Anh thuê, mà chúng tôi thì muốn có những vở kịch của Ireland do chính các diễn viên người Ireland diễn. Khi nghĩ đến những vở kịch này, chúng tôi nghĩ tới tất cả những gì là thi vị và lãng mạn, vì chủ nghĩa dân tộc mà chúng tôi phải khơi gợi lại – cũng như mọi thế hệ đều khơi gợi lại trong những giây phút nản lòng – cũng rất thi vị và lãng mạn. Tuy nhiên, năm 1896, phải mãi đến khi tôi gặp được bà Gregory, thành viên của một gia đình ở vùng Galway, người đã sống cả cuộc đời mình tại hai ngôi nhà ở vùng này, một là nơi bà được sinh ra và ngôi nhà kia là nơi bà lấy chồng và đến ở, thì việc thu xếp một nhà hát như vậy mới thực hiện được. Bao quanh bà là những người nông dân quê mùa, những người chuyên kể chuyện bằng thứ tiếng Anh trong đó sử dụng phần lớn cú pháp Gaelic và nhiều từ ngữ của tiếng Anh thời Tudor. Phải rất lâu sau, chúng tôi mới phát hiện ra trong lời nói của họ những phương tiện diễn xuất hiệu quả, nhất là từ khi bà Gregory bắt đầu sáng tác. Mặc dù những vở kịch của tôi được viết ra không sử dụng tiếng địa phương mà toàn bằng các đoạn thơ tự do tiếng Anh, tôi nghĩ bà Gregory vẫn bị cuốn hút vào phong trào của chúng tôi bởi chủ đề của những vở kịch ấy chỉ khác đôi chút so với chủ đề của những câu chuyện kể ở làng quê. Ngôi nhà của gia đình chồng bà Gregory vẫn còn nguyên vẹn vì bà đã trở về sống ở đó nhưng ngôi nhà nơi bà sinh ra đã bị những kẻ bạo động đốt cháy mới vài tháng trước đây. Nhiều vùng khác ở Ireland cũng đang lâm vào tình trạng bất ổn như vậy. Có khi chỉ vì tranh chấp vớ vẩn một mẩu đất mà người ta có thể cắn xé nhau một cách tàn bạo, và trong cuộc chiến tranh của họ với cảnh sát trợ chiến người Anh, hai bên không nương tay thương xót nhau, chỉ là máu trả máu. Nhưng mảnh đất ấy có chứa đựng đầy sự dốt nát và bạo lực thì tôi vẫn nhớ tới nó với những điều đẹp đẽ nên thơ. Ở Galway của tôi có một cái tháp nhỏ lâu đời và khi leo lên đến đỉnh tháp, tôi có thể nhìn thấy một cánh đồng xanh mướt cách đó không xa lắm, nơi có túp lều của một người đẹp từng nổi tiếng vùng quê này, tình nhân của một điền chủ nhỏ. Tôi đã từng hỏi chuyện những người già – nhiều người trong số họ đã mất – về nàng, và họ nói về nàng như những người già bên tường thành Troy nói về Helen. Mọi người đều nhất trí ca ngợi nàng. Một phụ nữ đứng tuổi mà thời trẻ đã từng được nhiều người mơ tưởng đã nói: “Lúc nào tôi cũng thấy lo đến phát run lên khi nghĩ đến cô ta”. Một phụ nữ khác ở vùng núi kế bên thì nói: “Mặt trời và mặt trăng không bao giờ soi rọi vào bất cứ ai xinh đẹp nên làn da của cô ấy thật trắng, trắng đến mức xanh xao và cô ấy còn có hai ánh hồng trên má”. Những người đàn ông kể về những đám đông cùng tụ tập để ngắm nàng. Rồi một người đàn ông khác “đã chết đuối trên sông” vì mải ngắm nhìn nàng. Còn có một bài hát do nhà thơ Raftery người Gaelic sáng tác khiến cô gái càng trở nên nổi tiếng, và những người dân nghèo vẫn hát mãi bài hát ấy, mặc dù tôi thấy nó không còn được hát nhiều như ngày tôi còn trẻ:

Sáng sao đêm và mùa vàng mặt trời

Ôi mái tóc nâu người tôi yêu nhất

Mary Hynes chốn yên tĩnh nghỉ ngơi

Đẹp cả tâm hồn và đẹp cả người.(5)

Dường như toàn bộ cái thế giới xa xưa đều trải rộng quanh chúng ta với hình ảnh tự do của nó. Nó đem đến nguồn cảm hứng cho những câu chuyện kể, tiếp thêm sinh lực cho đàn ông và vẻ kiều diễm cho phụ nữ. Và tất cả những gì chúng ta phải làm là giúp cho người thành thị có được những cảm nhận như người thôn quê, song chúng ta cũng sớm nhận ra rằng người thành thị chỉ có thể nghĩ theo cách của người thành thị.

Ở nông thôn, bạn sẽ chỉ có một mình với niềm phấn khích của mình, gánh nặng của mình và với tấn kịch thông thường của cuộc sống, và nếu bạn có một khả năng cảm nhận nghệ thuật nào đó, bạn sẽ thấy khao khát những cảm xúc đẹp đẽ; và chắc chắn mùa nào thì cũng giống nhau thôi, dù mỗi mùa có một cách thể hiện riêng(6). Ở thành thị, nơi mọi người sống đông đúc xung quanh bạn, người mà bạn thù ghét là người hàng xóm chứ không phải bản thân mình, và kể cả bạn không muốn gây khó dễ cho cuộc sống của anh ta và cuộc sống của bản thân bạn, thậm chí nếu bạn không phải giết anh ta theo một cách thức nào đó thì sẽ vẫn có người dạy bạn về thực tế cuộc sống và sự công bằng. Ngay khi đó bạn sẽ thấy ghét người thầy dạy kia vô cùng, bạn gọi những cuốn sách và những vở kịch của ông ta là xấu xa, dối trá, bệnh hoạn, hay một cái gì đó đại loại như thế, nhưng cuối cùng bạn vẫn phải đồng ý với ông ta. Chúng ta phải đi tìm lại bản thân mình trong sự xung đột với phần đông ý kiến buộc ta phải hành động trái với ý muốn của mình, và cái mong muốn của những diễn viên của chúng tôi về việc dùng từ ngữ phổ thông thay thế cho các đoạn thơ, dùng các lối nói thông thường thay cho tiếng địa phương trở nên thực tế hơn.

Tôi đã nói với bà Gregory là tôi không thấy khả năng đầu tư tài chính cho nhà hát và như vậy thì đành phải từ bỏ hi vọng kia. Bà Gregory đã hứa sẽ nhờ tới những người bạn của bà. Ông Edward Martin(7), người hàng xóm của bà Gregory, đã trả tiền cho những buổi biểu diễn đầu tiên và cho những diễn viên đầu tiên đến từ nước Anh, nhưng bấy giờ chúng tôi đã bắt đầu làm việc thực sự trong một đoàn kịch nhỏ với những diễn viên nghiệp dư người Ireland. Trong một buổi diễn tập, có người đã hỏi tôi: “Ông sẽ tìm diễn viên ở đâu?” và tôi trả lời: “Tôi sẽ vào một phòng chật ních người và ghi tên mọi người vào những mẩu giấy rồi cho tất cả những mẩu giấy ấy vào một cái mũ và lấy hú họa ra mười hai mẩu giấy đầu tiên”. Tôi thường ngạc nhiên về điều tiên tri ấy, vì dù câu nói thốt ra có lẽ khiến người hỏi lúng túng và bối rồi, nhưng nó lại gần đúng như thật. Thực ra, hai diễn viên giỏi nhất của chúng tôi đúng là không phải được chọn một cách ngẫu nhiên. Một người là thư kí của luật sư tư vấn pháp luật, rất mê sân khấu còn người kia là người đã từng đi khắp Ireland, làm việc trong một đoàn kịch do một người da đen quản lí. Tôi không nghĩ rằng anh ta đã học hỏi được gì nhiều trong đoàn kịch kia, vì lối diễn xuất huyên náo và kém tinh tế. Thêm vào đó, tính ước lệ trên sân khấu lại quá mạnh; người da đen phết mặt mình thành trắng khi phải đóng vai người da trắng còn khi anh ta phải đóng vai người da đen thì bôi mặt đen. Nếu một diễn viên phải bóc một lá thư trên sân khấu, tôi dám chắc anh ta sẽ phải lấy tay vỗ nhẹ lá thư, như tôi đã từng thấy các diễn viên làm như vậy hồi còn trẻ, một động tác mà lâu nay đã mất ý nghĩa vốn có của nó khi người ta đã dùng giấy thấm thay cho giấy nhám. Chúng tôi cũng có các diễn viên nữ, mặc dù họ đến từ một nhóm nhỏ hoạt động chính trị với tôn chỉ hoạt động của mình là dạy dỗ đám trẻ em nghèo – điều này có nghĩa, theo kẻ thù của họ, là dạy chúng thứ giáo lí bắt đầu bằng câu hỏi: “Cái ác sinh ra từ đâu?” và câu trả lời là: “Từ nước Anh”. Và họ đến với chúng tôi vì những lý do yêu nước và biểu diễn đúng theo động cơ đã thôi thúc họ phải lên tiếng, vậy mà hai người trong số họ đã chứng tỏ rằng mình là những diễn viên tài năng thiên phú: đó là cô Allgood và cô “Maire O Neill”. Họ là hai chị em. Một người tính tình đơn giản, tâm hồn được nuôi dưỡng bằng những bài hát và những câu chuyện kể dân gian. Người kia thì tinh tế, khôn khéo và rất lãng mạn. Tôi không biết họ đã nghĩ gì khi những khả năng mới kì lạ đó đã thức tỉnh trong họ, nhưng tôi cho rằng họ chắc hẳn đã rơi vào cảm giác có lỗi, rằng động lực thúc đẩy lòng yêu nước không còn nữa, rằng họ đã buông mình vào sự phù hoa hoặc tham vọng. Nhưng tôi nghĩ đó chỉ là những ngộ nhận ban đầu, đó chính là cái làm nên khả năng thiên tài đặc biệt của họ, vì thế họ đến với chúng tôi với những hoài bão sân khấu. Họ có thể bắt chước một số diễn viên người Anh nổi tiếng và ao ước được diễn những vở kịch nổi tiếng của Anh. Họ sẽ không thể bộc lộ được tài năng của mình nếu không nhờ sự vô danh của chúng tôi trong một thời gian dài như con chim nằm trong trứng của nó. Chúng tôi diễn kịch trong những hội trường chật hẹp, thường là rất tồi tàn, nằm sâu trong ngõ. Chúng tôi có thể thử nghiệm và chờ đợi, nhưng không có gì phải lo lắng, ngoại trừ sự bất hòa về chính trị. Chúng tôi ít tiền, mà bước đầu cũng chẳng cần gì nhiều, hai mươi nhăm bảng của bà Gregory, hai mươi bảng của tôi và vài bảng nữa có được ở chỗ này chỗ khác. Đoàn kịch của chúng tôi tổ chức hơi khác thường, diễn viên và tác giả kịch bản phải cùng ngồi lại với nhau và bỏ phiếu xem nên diễn vở nào và ai đóng vai nào. Đã có hàng loạt những xáo trộn, nhiều tuần tranh cãi, và trong suốt thời gian đó không hề diễn được buổi nào cho mãi đến khi bà Gregory, John Synge và tôi đứng ra thu xếp. Quan hệ của chúng tôi với công chúng còn bị xáo trộn nhiều hơn. Một vở kịch của chúng tôi đã bị những tờ báo yêu nước lên án kịch liệt vì nó kể chuyện một người đàn bà nông dân đã có gia đình nhưng lại có tình nhân. Và khi chúng tôi công bố vở kịch dựa trên truyện cổ dân gian Aran(8) ấy, cánh báo chí lại cho rằng câu chuyện này là cóp lại chuyện của một tác giả Pagan Rome đồi bại nào đó. Ngay lúc ấy, bà Gregory đã viết vở hài kịch đầu tay. Những vở kịch thơ của tôi không đủ dài để lấp đầy buổi diễn nên bà Gregory soạn thêm một vở kịch nhỏ bằng tiếng địa phương nơi bà ở kể về chuyện tình thôn quê. Một anh chàng từ Mỹ trở về trong tay có hàng trăm bảng và gặp lại người yêu cũ nay đã lấy một anh nông dân bị phá sản. Chàng chơi bài với tay nông dân kia và giả vờ thua để đưa cho anh ta toàn bộ số tiền. Đoàn kịch từ chối diễn vở kịch này. Họ nói nếu chấp nhận một kẻ ra đi rồi trở về với hàng trăm bảng trong tay thì sẽ khuyến khích mọi người ra đi. Chúng tôi đã dẫn chứng việc nhiều người ra đi nay trở về với những khoản tiền lớn hơn gấp nhiều lần nhưng lại được đáp rằng điều ấy chỉ làm cho sự việc tồi tệ thêm. Sau những tranh cãi tràng giang đại hải khiến cả bọn chúng tôi mệt nhoài, bà Gregory đã đồng ý giảm số tiền xuống còn hai mươi bảng, và đám diễn viên ấy mới chịu thua. Vở kịch nhỏ thật tình cảm và theo lối cổ truyền, nhưng vở kịch tiếp theo mới thật sự chứng tỏ tài năng của tác giả. Bà Gregory cũng khát khao được phục vụ và tài năng kia dường như rất kì diệu đối với chính bản thân bà. Bà đã sống nửa cuộc đời mà chưa từng viết gì ngoài những tập hồi ức chính trị và từng không có hứng thú gì với nhà hát.

Ngày nay, ai đã từng đọc Bảy vở kịch ngắn của bà Gregory cũng đều không hiểu tại sao một vở trong số đó, vở Trăng lên, hiện đã trở thành một kịch bản kinh điển của Ireland, lại không được trình diễn suốt hai năm liền. Một viên cảnh sát đã phát hiện tên tù trốn trại Fenian(9) nhưng lại để cho hắn được tự do, bởi tên tù này đã hát mấy bài hát xưa gợi nhớ lại tinh thần yêu nước thời trai trẻ bị lãng quên của anh ta. Các diễn viên không chịu diễn vở kịch đó vì họ nói rằng việc công nhận viên cảnh sát nọ có thể có lòng yêu nước là một hành động trái với tinh thần yêu nước. Một nhà lãnh đạo nổi tiếng đã viết cho tôi: “Làm sao có thể trông chờ dân chúng Dublin đấu tranh với cảnh sát nếu họ coi cảnh sát là những người có thể có lòng yêu nước?”. Cuối cùng, khi ra mắt công chúng, vở kịch đã được đón nhận hết sức nhiệt tình, nhưng điều đó lại đẩy chúng tôi vào một rắc rối mới. Tờ báo Unionist Dublin đã lên án vở diễn vì nó đã vu khống lực lượng cảnh sát Hoàng gia. Dublin Castle, một trụ sở của chính phủ Anh tại Ireland đã từ chối ưu tiên cho chúng tôi cùng với các nhà hát khác ở Dublin mua những bộ trang phục cảnh sát bỏ đi để làm đạo cụ sân khấu. Trụ sở ấy và cánh báo chí đều biết rằng cảnh sát thường xuyên để sổng tù chính trị nhưng “điều đó chỉ làm cho tình hình tệ hơn mà thôi”. Mọi đảng phái chính trị đều có mong ước chung là thay đổi cuộc sống, thứ không thể làm lại đến hai lần, bằng hàng loạt những yêu sách và những nguyên tắc thực tế. Tính chính thống của tôn giáo cũng không đem lại cho chúng tôi điều gì tốt hơn so với tính chính thống của chính trị(10). Vở Nữ bá tước Cathleen của tôi đã bị Giáo chủ Logue lên án rất dữ dội và bị coi là một vở kịch dị giáo. Và khi tôi viết rằng chúng tôi muốn trình diễn “những kiệt tác nước ngoài”, một tờ báo theo chủ nghĩa dân tộc đã tuyên bố “một kiệt tác nước ngoài như vậy là một điều hết sức nguy hiểm”. Những hội trường nhỏ bé nơi chúng tôi diễn kịch có thể chứa tối đa hai trăm người, nhưng số khán giả của chúng tôi thường là không quá hai, ba chục người, chúng tôi vẫn diễn nhưng chỉ hai ba buổi mỗi tháng, còn những khi xung đột với báo chí thì thậm chí chẳng có buổi diễn nào. Tuy nhiên vẫn không thiếu những bài báo lớn tiếp tục chỉ trích rằng ngay từ đầu chúng tôi đã là một mối nguy hiểm đối với công chúng. Có hai sự kiện đã mang lại chiến thắng cho chúng tôi: một người bạn đã lo được cho chúng tôi nhà hát và tôi đã phát hiện được một nhân tài mới – John Synge. Sau một bài báo công kích mạnh mẽ, tôi đã đứng lên trước sân khấu và kêu gọi sự ủng hộ của hàng trăm khán giả. Khi tôi bước xuống sân khấu, một người bạn cũ của tôi, bà Hariman, người mà tôi hi vọng sẽ góp khoảng hai mươi bảng, đã nói: “Tôi sẽ tìm giúp anh một cái nhà hát”. Bà đã tìm và đã thay đổi địa điểm biểu diễn của chúng tôi, hiện là nhà hát Abbey, ở Dublin và đã dành cho chúng tôi một khoản trợ cấp nhỏ trong vòng vài năm.

Tôi đã gặp John Synge ở Paris năm 1896. Có người nói với tôi: “Có một người Ireland sống trên tầng chót trong khách sạn của tôi. Tôi sẽ giới thiệu người ấy với anh”. Tôi rất nghèo nhưng anh ấy còn nghèo hơn. Anh sinh ra trong một gia đình truyền thống người Ireland, và mặc dù là một người rất giản dị và tao nhã, anh luôn nhớ đến gia đình của mình và tỏ ra tự hào. Tiền chỉ vừa đủ giúp anh khỏi chết đói, nhưng không phải lúc nào cũng no bụng. Anh đã chu du vòng quanh Châu Âu bằng toa tàu hạng ba và bằng đôi chân, chơi đàn violon cho những người nghèo ngoài phố hoặc trong các túp lều của họ. Anh chính là người tôi đang cần vì đó là con người duy nhất tôi từng biết không tư duy theo kiểu chính trị hay các mục đích nhân văn. Anh có thể đi trên vỉa hè cả ngày với một người nghèo khổ nào đó mà không phải vì có ý muốn làm điều gì tốt cho người ấy hay vì lý do nào khác trừ lý do anh thích người kia. Anh muốn làm một cái gì đó cho đất nước Ireland giống như Robert Burns đã làm cho nước Scotland nhưng không phải là nhờ những ảnh hưởng trực tiếp của anh mà nhờ những ảnh hưởng của anh đối với các nhà viết kịch khác. Khi xứ sở Scotland tự cho mình là u buồn sùng đạo, thì Thượng đế đã làm sống lại tính hồn nhiên giàu tưởng tượng bằng cách nuôi dưỡng Robert Burns để ca tụng thú uống rượu và quỷ Sa tăng. Mặc dù vậy, tôi không nhận thấy điều gì sẽ xảy ra khi tôi mời John Synge đến một vùng đảo hoang ngoài bờ biển Galway và tìm hiểu sự sống ở đó vì sự sống ấy “chưa từng được miêu tả trong văn chương”. Anh đã học tiếng Gaelic ở trường cao đẳng, và tôi đã nói với anh điều mà tôi muốn nói với bất cứ người thanh niên nào đã học tiếng Gaelic và muốn sáng tác. Trên hòn đảo này, lần đầu tiên anh có được cảm giác hạnh phúc, mà theo lời anh thì đó là cảm giác thoát “khỏi sự trống rỗng của kẻ giàu và sự thảm hại của kẻ nghèo”. Sức khỏe của anh rất tệ, anh không thể chịu đựng nỗi vất vả trên đảo một thời gian dài, nhưng anh có thể đi đi về về giữa đảo và Dublin.

Bản thân Robert Burns có thể đã không làm giới tu sĩ Scotland thấy sốc bằng những gì anh này đã gây nên cho các diễn viên của chúng tôi. Một số phụ nữ vây quanh anh nài nỉ anh viết một vở kịch về cuộc nổi loạn năm 98, và rất chân thành chỉ ra rằng một vở kịch với chủ đề có tinh thần yêu nước như vậy sẽ thành công lớn. Cuối cùng, sau hai tuần làm việc cần cù, anh ta đã quay lại với một kịch bản trong tay. Hai người phụ nữ nghèo sống trốn tránh trong hang núi, một người theo đạo Tin lành, một người theo đạo Cơ đốc, họ đã tranh luận với nhau bất tận về giá trị tín ngưỡng riêng của mình. Người phụ nữ theo đạo Cơ đốc thì chỉ trích Vua Henry VIII và Nữ hoàng Elizabeth còn người phụ nữ theo đạo Tin lành thì lên án Tòa án dị giáo và Giáo hoàng. Họ phải nói khẽ với nhau vì một người sợ lại bị quân phiến loạn hãm hiếp còn người kia thì sợ đám lính hoàng gia. Nhưng rốt cuộc, cả hai đều nói rằng thà họ phải chịu bất kì một số phận nào khác cũng còn hơn là cứ phải sống mãi với nhau trong cảnh khó chịu ấy và họ bỏ ra ngoài. Vở kịch này không được trình diễn và mãi về sau này tôi vẫn không thể biết được liệu Synge có hiểu được cú sốc mà anh đã tạo ra hay không. Dù thế nào đi nữa, chắc anh cũng không hề lường trước được rắc rối mà vở kịch lớn nhất của anh đã đem tới cho tất cả chúng tôi.

Khoảng một vài tháng trước khi tôi gặp Synge lần đầu, khi tôi đưa chiếc thuyền đánh cá vào đảo Aran, một số dân đảo đã tụ tập lại vì thấy có người lạ. Họ đưa tôi đến gặp “người già nhất trên đảo”. Ông ta chỉ nói với tôi hai câu, và nói rất chậm: “Bất cứ ai phạm tội khi đến nơi này đều được chúng tôi che giấu. Đã từng có một người phạm tội giết cha đến đây và tôi đã để anh ta ở lại nhà tôi ba tháng cho đến khi anh ta đi Mỹ”. Và Synge đã ấp ủ ý định viết một kịch bản dựa trên câu chuyện của ông già nọ. Một người trẻ tuổi vào một ngôi nhà nhỏ trong làng và kể với con gái ông chủ nhà rằng anh ta đã giết cha đẻ của mình. Anh ta còn nói rằng anh ta biết cô sẽ thông cảm với anh ta. Và mỗi lần kể lại câu chuyện này với những tình tiết thêm thắt và phóng đại thêm, anh ta đã giành được sự đồng cảm của người này người kia, vì người dân trên đảo này vốn đã quen sống trái pháp luật. Người ta quan niệm tội ác càng khủng khiếp bao nhiêu thì càng phải có sức kích thích mạnh bấy nhiêu. Bản thân anh thanh niên kia cũng như bị câu chuyện của chính mình kích động, cũng trở nên vui vẻ, mạnh mẽ và may mắn. Tình yêu của anh ta đang tiến triển tốt đẹp,  thoạt đầu anh ta đến với các cuộc đua ngựa ở địa phương, sau đó khiến các bàn chơi cò quay phải phá sản. Nhưng rồi người cha đến với cái đầu còn quấn băng trắng, thế là mọi người quay ra xỉ vả kẻ bịa đặt. Để lấy lại sự tôn trọng của họ, anh ta đã vớ lấy một cái cuốc và định giết chết cha mình nhưng người ta sợ những gì anh ta kể sẽ trở thành sự thực nên đã trói anh ta lại và giao cho cảnh sát. Người cha đã tha thứ cho anh ta và hai cha con cùng ra đi. Người con vui vẻ và tuyên bố rằng từ nay về sau anh ta sẽ tự lo được cho bản thân mình chứ không cần ai giúp đỡ nữa. Vở kịch là một kiệt tác đẹp như tranh, thi vị và tuyệt vời về phong cách diễn xuất và âm nhạc, một tuyệt phẩm bằng phương ngữ của nhà hát địa phương của chúng tôi. Vì người xem cực kì phẫn nộ với nhân vật anh con trai nên tối hôm ấy chúng tôi phải diễn với sự bảo vệ của hơn bảy mươi cảnh sát, và như một tờ báo nào đó đã công bố, đã có năm trăm người giữ trật tự trên các đường phố bên ngoài. Vở kịch chưa bao giờ được công diễn trước khán giả Ireland mà các diễn viên lại không bị ném thứ gì đó vào người. Ở New York, đã có một cái bánh nhân nho và một chiếc đồng hồ được ném lên sân khấu. Sau đó, người chủ của chiếc đồng hồ đã nhận lại nó sau cánh gà. Tuy nhiên, khán giả Dublin từ lâu đã chấp nhận vở kịch. Tôi nghĩ tất cả các diễn viên trên sân khấu đều rất dễ mến và diễn rất ăn ý, và rõ ràng là Synge đã mô tả thông qua chủ nghĩa tượng trưng được cường điệu hóa một hiện thực mà anh thật sự yêu thích vì anh yêu thích tất cả những gì là hiện thực. Không phải như người ta đã nghĩ, anh không hề là một nhà chính trị làm việc vì lợi ích của nước Anh, anh mang ít chất chính trị trong mình đến mức thế giới khiến anh thấy buồn cười và động lòng thương hại. Tuy vậy, khi Synge mất vào năm 1910, quan điểm ấy hầu như vẫn không thay đổi. Chúng tôi vẫn diễn trong một nhà hát gần như không có khán giả và tiếp tục bị báo chí lên án. Nhưng rồi chúng tôi cũng đã giành được chiến thắng nhờ những con người học được từ Synge sự chân thành và lòng dũng cảm nhưng thuộc về một trường phái khác. Tác phẩm của Synge, tác phẩm của bà Gregory, vở Cathleen ni Houlihan và vở Đồng hồ cát của tôi theo thể văn xuôi là những gì tiêu biểu cho tham vọng đầu tiên của tất cả chúng tôi. Chúng đã đem hình ảnh, tiếng nói của xứ sở, truyền thống thơ ca lưu truyền từ thời Trung cổ đến với người dân thành thị. Những người đã học được từ Synge sự chân thành và lòng dũng cảm có vốn hiểu biết rất ít về nông thôn và thường không mấy quan tâm đến phương ngữ của xứ sở này. Những vở diễn của họ thường công kích những sự lạm dụng trắng trợn, như việc đút lót cho bác sĩ ở điểm phát thuốc, những nỗ lực của một số chính khách địa phương nhằm duy trì mối quan hệ thân thiện với tất cả các đảng phái. Hơn thế, theo tôi, các vị bộ trưởng trẻ tuổi và các chính khách của Nhà nước Tự do Ireland chắc chắn cũng đã rút ra được một số bài học từ những vở kịch của chúng tôi. Sau đó, cũng có nhiều vở hài kịch không nhằm đả kích chính trị ra đời, mặc dù chúng có đề cập đến cuộc sống của đám người mà đầu óc họ đầy ắp chất chính trị. Nói về những người này thì ông Lennox Robinson là người nổi tiếng nhất. Vở kịch Cậu bé quấn khăn trắng của ông đã được công diễn ở Anh và Mỹ. Về sau, trường phái này dường như đã đi đến chỗ kết thúc khi mà những cốt truyện cũ được lặp lại với những thay đổi không đáng kể và sự mô tả tính cách nhân vật ngày càng máy móc. Nếu chỉ nhìn vào những vở kịch mêlô và những vở bi kịch của bốn năm gần đây thì còn quá sớm để kết luận rằng điều gì sẽ đến với chúng tôi, nhưng nếu chúng tôi có thể trả lương cho diễn viên và duy trì được việc mở cửa nhà hát thì điều gì đó cũng sẽ đến(11). Chúng tôi đã mắc nợ rất nhiều vì chúng tôi đã phải trải qua chiến tranh và nội chiến, khán giả ngày càng thưa thớt vì những trận đụng độ vũ trang trên đường phố. Mặc dù vậy, chúng tôi vẫn tồn tại và vì thế tôi tin vào sự may mắn của chúng tôi. Tôi nghĩ, tôi có quyền nói rằng tôi đã kết thúc bài thuyết trình của mình ở giữa hoặc thậm chí có lẽ ở ngay đầu câu chuyện. Nhưng chắc chắn những gì tôi nói đã đủ để bạn hiểu tại sao, khi nhận từ tay Đức Vua vinh dự lớn lao mà Viện Hàn lâm của các bạn trao tặng, tôi cảm thấy rằng bóng của Synge lẽ ra phải đứng ở một bên, cạnh tôi và bên kia là Gregory – người đang sống trong tuổi già khỏe mạnh. Tuần trước, tôi đã chứng kiến nhiều cái đáng ghi nhớ và rất thú vị đối với Synge và bà Gregory, bởi vì Thụy Điển đã đạt được nhiều hơn những gì mà chúng tôi hi vọng cho đất nước mình. Có lẽ tôi nghĩ nhiều nhất đến cảnh tượng tuyệt vời trong cung đình của các bạn, một dòng dõi được kính yêu và có thể tập hợp quanh mình không chỉ địa vị mà cả trí tuệ của đất nước. Sẽ không có cảnh tượng nào tương tự ở Ireland phản ánh được kỉ luật lao động và gu thẩm mĩ, mặc dù nó có thể thỏa mãn nhu cầu của một chủng tộc, và cũng chẳng một định chế nào được tạo ra bởi nền dân chủ ở Anh và Mỹ có thể thỏa mãn.

Tác phẩm của William Yeats:

Bài ca về cha O’Hart (The Ballad of Father O’Hart, 1888), thơ.

Bài ca về người săn cáo (The Ballad of the Fox-hunter, 1889), thơ.

Những cuộc viễn du của Oisin và các bài thơ khác (The Wandering of Oisin and Other Poems, 1889), thơ.

Những ngã tư đường (Crossways, 1889), tập thơ.

– John Sherman (1891), tiểu thuyết.

Nữ bá tước Cathleen (The Countess Cathleen, 1892), kịch thơ.

Tặng bông hồng trên con đường thời gian (To the Rose Upon the Road of Time, 1893), thơ.

Xứ sở ham muốn của con tim (The Land of Heart’s Desire, 1894), kịch thơ.

– Hoa hồng (The Rose, 1893), tập thơ.

Gió trong bãi sậy (The Wind Among the Reeds, 1899), thơ.

Catheleen con gái Houlihan (Catheleen ni Houlihan, 1902), thơ.

– Đồng hồ cát (The Hour Glass, 1903), kịch.

– Trong bảy cánh rừng (In the Seven Woods, 1903), thơ.

– Trên bờ Baile (On Baile’ Strand, 1904), kịch.

Trước cửa Vua (The King’s Thereshold, 1904), kịch thơ.

Nồi nước sốt (The Pot of Broth, 1904), hài kịch.

Bóng nước (The Shadowy Waters, 1906), kịch thơ.

Deirdre (1907), kịch thơ.

Chiếc mũ màu xanh (The Green Helmet, 1910), thơ.

Trách nhiệm (Responsabilities, 1914), thơ.

Lễ Phục Sinh (Easter, 1916), thơ.

Bên giếng diều hâu (At the Hawk’s Well, 1916), kịch.

Những giấc mơ của xương (The Dreaming of the Bones, 1919), kịch.

Thiên nga ở Coole (The Wild Swans at Coole, 1919), thơ.

Bốn vở kịch cho vũ nữ (Four Plays for the Dancers, 1921), thơ.

Michael Robartes và vũ nữ (Michael Robartes and Dancer, 1921), thơ.

– Hoàng hậu – diễn viên (The Player Queen, 1922), kịch.

Bóng hình (A Vision, 1925; tái bản 1937), tiểu luận.

– Tự thuật (Autobiographies, 1926)

– Con mèo và mặt trăng (The Cat and the Moon, 1926), kịch.

Bảy bài thơ và một đoạn (Seven Poems and One Fragment, 1927), thơ.

Tháp (The Tower, 1928), thơ.

– Đám tang Parnell (Parnell’s Funeral, 1932, in 1935), thơ.

– Cầu thang xoáy ốc và những bài thơ khác (The Winding Stair and Other Poems, 1933), thơ.

Vua những đồng hồ tháp lớn (The King of the Great Clock Tower, 1935), kịch.

Rằm tháng Ba (A Full Moon in March, 1935), thơ.

Lời nguyền Cromwell (The Curse of Cromwell, 1937), thơ.

– Cái chết của Cuchulain (The Death of Cuchulain, 1939), kịch.

Những bài thơ và những vở kịch cuối cùng (Last Poems and Plays, 1940), thơ.

– Ở ngoại vi Ben Bulben (Under Ben Bulben, xuất bản 1948), di chúc thơ.

* Tác phẩm đã dịch ra tiếng Việt:

– Đừng bao giờ trao trọn trái tim, Gửi Anne Gregory, Một bài ca, Nỗi buồn tình yêu, Khi em đã già (thơ), Đắc Lê dịch, in trong Sắc đẹp của em và lí trí của anh, Nxb Thanh niên, 1996.

– Chàng Hanrahan tóc đỏ, Dương Tường dịch, in trong Tuyển tập truyện ngắn các tác giả đoạt Giải Nobel, Nxb Văn học, 1999; Truyện ngắn đặc sắc các tác giả được giải thưởng Nobel, Nxb Văn học, 2004.

Xem Thêm : Hermann Hess và những tác phẩm mang đậm chất nhân đạo

——————

Bạn Đang Xem: William Yeats, tác giả của những vần thơ điêu luyện

Mai Diên, Hoàng long dịch từ bản tiếng Anh
“The Irish Dramatic Movement”

Nguyễn Việt Long – Ngân Xuyên hiệu đính

(Nguồn: http://nobelprize.org)

Trung tâm Văn hóa Ngôn ngữ Đông Tây

Xem Thêm : Hermann Hess và những tác phẩm mang đậm chất nhân đạo

——————

Bạn Đang Xem: William Yeats, tác giả của những vần thơ điêu luyện

Ghi chú:

(1) Do chủ tịch ủy ban giải Nobel, Viện Hàn lâm Thụy Điển Per Hallstrửm đọc ngày 10/12/1923.

(2) W. Yeats đọc ngày 15/12/1923.

(3) W. Yeats đã xác nhận rằng Diễn từ của ông được viết lại theo trí nhớ, và trong văn bản Diễn từ do Viện Hàn lâm Thụy Điển công bố trên trang web về giải Nobel (http://nobelprize.org) có bổ sung một số sửa đổi mà nhà thơ đã làm trong phiên bản đăng ở The Bounty of Sweden (Sự hào phóng của Thụy Điển) (Nxb Cuala Press, Dublin, 1925), chúng tôi dịch toàn bộ và đưa các phần bổ sung vào chú thích ở dưới trang để bạn đọc tham khảo.

(4) Gaelic: ngôn ngữ thuộc nhánh Celtic, được sử dụng ở Ireland, Scotland, là một trong hai ngôn ngữ chính thức (cùng với tiếng Anh) của nước Cộng hòa Ireland.

(5) Phạm Toàn dịch thơ.

(6) Phần bổ sung theo “Sự hào phóng của Thụy Điển”: Tôi đã từng ở trong ngôi nhà ở Galway trong suốt những tháng đầu tiên xảy ra nội chiến. Những cây cầu đường sắt bị nổ tung, những con đường ngổn ngang gạch đá. Tuần đầu tiên, chúng tôi không có một tờ báo hay một tin tức đáng tin cậy nào. Chúng tôi không biết ai đã thắng và ai đã thua,  thậm chí khi có báo trong tay, người ta vẫn không thể biết điều gì đang xảy ra phía bên kia quả đồi hay sau những hàng cây kia. Những cỗ xe chở quan tài xếp xen giữa các ghế ngồi thỉnh thoảng lại đi qua nhà. Thỉnh thoảng, trong đêm, chúng tôi lại nghe thấy tiếng nổ, một lần vào ban ngày chúng tôi nhìn thấy khói bốc lên từ một ngôi nhà lớn gần đó bị thiêu cháy. Con người buộc phải sống như thế qua nhiều năm tháng loạn lạc. Người ta khao khát đến cháy bỏng được sống một cuộc sống không có bất hạnh và cay đắng, không mất đi tất cả khả năng thưởng thức cái đẹp của tự nhiên. Một con sáo đá đã làm tổ trong hốc tường cạnh cửa sổ nhà tôi và tôi đã viết những vần thơ phản ánh tâm trạng lúc bấy giờ:

Những con ong đến làm tổ trong kẽ nứt

Của bức tường vữa lở, và ở đó

Con chim mẹ mớm mồi và bay đi

Bức tường của tôi đang lung lay, những con ong mật

Hãy đến làm tổ trong ngôi nhà trống rỗng của con sáo đá

Chúng tôi đã nhốt mình bên trong, và chìa khóa đã được vặn lại

Trong mông lung của chúng tôi, đôi chỗ

Một người bị giết, hoặc một ngôi nhà bốc cháy

Nhưng không có gì chắc chắn để nhận ra

Hãy đến làm tổ trong ngôi nhà trống rỗng của con sáo đá.

[Kiều Vân dịch thơ].

Đó chỉ là đoạn mở đầu, và những phần tiếp theo cũng được viết ra trong tâm trạng như vậy. Ngay lúc đó điều kì diệu đã xảy ra. Tôi bắt đầu ngửi thấy mùi mật ong ở những chỗ không thể có mật ong, ở cuối một lối đi bằng đá hay một ngã rẽ lộng gió trên đường, và nó luôn đến mang theo những suy tư nào đó. Khi tôi trở lại Dublin, tôi đã gặp những con người giận dữ, tranh luận về mọi thứ và háo hức muốn biết chính xác những sự kiện. Họ đang có tâm trạng diễn những vở kịch hiện thực.

(7) Phần bổ sung theo “Sự hào phóng của Thụy Điển”: Ông Edward Martyn đã tài trợ cho buổi công diễn đầu tiên của chúng tôi. Ông là một điền chủ Galway có tòa nhà cổ, một phần được xây dựng nên từ thế kỉ XIV, một phần được sửa lại theo kiến trúc gô-tích hiện đại cầu kì từng một thời hợp gu những gia đình Cơ đốc giáo ở Ireland. Ông có một gian phòng lớn được bài trí bởi nhà thiết kế nội thất Crace. Ở đây, ông chơi trên một cây đàn organ nhạc Palestrina [Palestrina, Giovanni Pierluigi da (1525?-1594), nhạc sĩ Italia], và một phòng làm việc có treo bức tranh các nhà thơ được đặt trong khung kính cũ kĩ có vết ố. Đây là nơi ông đọc Ibsen và các cha của Giáo hội, ngoài ra không có thứ gì khác. Một người đàn ông nhạy cảm, thân thiện, thông minh, mạnh mẽ, và có phong cách hấp dẫn, ông tránh gặp phụ nữ chẳng khác gì một tu sĩ thời Trung cổ. Giữa ông và toàn bộ trải nghiệm có một lời răn ám ảnh: “Nếu tôi làm một việc như thế và đọc một cuốn sách như thế, tôi có thể đánh mất linh hồn của mình”. Vở Nữ bá tước Cathleen của tôi và một vở kịch của ông đều là những vở kịch được nhà hát chúng tôi công diễn đầu tiên. Nhân vật nữ trong vở kịch của tôi đã bán linh hồn cho quỷ dữ, rồi sau đó lấy lại được vì “Chúa chỉ xem xét động cơ chứ không xem xét hành động”, và động cơ của bà ta là cứu những kẻ đang đói khát khỏi bán linh hồn vì thân xác của mình. Martyn đã từ chối tài trợ khi mọi thông báo biểu diễn của chúng tôi đã ban bố khi một vị linh mục bảo với ông ấy rằng những vở kịch của tôi là dị giáo. Tôi phải mời hai vị linh mục khác đến nói rằng nó không dị giáo, thế là Martyn hài lòng vì chúng tôi có những lí tưởng dân chủ. Tuy nhiên, mấy tháng sau, ông rút lui hẳn, như thấy trước được tai họa sẽ xảy đến với linh hồn mình. Ông mất khoảng một hai tháng trước và cùng với ông, một dòng tộc có từ thế kỷ XII đã chết theo. Một người bất hạnh, cần cù, không con cái, không thành đạt, một người Ireland điển hình đã ra đi.

(8) Aran: tên quần đảo ở bờ biển Tây Ireland.

(9) Thành viên tổ chức bí mật đấu tranh nhằm lật đổ ách thống trị của Anh ở Ireland vào giữa thế kỉ XIX.

(10) Phần bổ sung theo Sự hào phóng của Thụy Điển: Trong bài Nguồn gốc của nghệ thuật nhà thờ Kitô giáo (một bản dịch từ loạt các bài thuyết trình ở Upsala năm 1919), Joseph Strzygowski đã nói: “Nghệ thuật không mấy phát triển ở các cung điện so với những nơi khác trên thế giới. Do vị thế quyền lực, mọi thứ đều phải phụ thuộc vào chính trị. Các thế lực sẵn sàng chấp nhận thực tế này luôn được hoan nghênh, còn những ai không chấp nhận thì hoặc phải ra đi hay sống cách biệt”. Ngày nay, sự chuyên chế, bạo ngược, sự thuyết giáo của các hội đoàn cách mạng, các hình thức tuyên truyền tôn giáo và chính trị chính là những mối hiểm họa đối với văn học và nghệ thuật. Sự thuyết giáo đã khiến nền văn học Anh hiện đại trở nên suy đồi và trong hai mươi năm dẫn đến cuộc cách mạng dân tộc của chúng tôi, sự chuyên chế, bạo ngược đã tiêu hao phần lớn sinh lực của các nhà thơ và các nhà viết kịch. Họ luôn phải đề phòng để bảo vệ cho sự sáng tạo của mình; sự sáng tạo càng tự nhiên bao nhiêu thì càng khó bảo vệ bấy nhiêu.

(11) Phần bổ sung theo Sự hào phóng của Thụy Điển: Khi tôi viết bài thuyết trình này, chúng tôi đã dựng xong vở Juno và nhà Paycock của tác giả O’Casey, một vở diễn thành công nhất trong những năm qua. Bối cảnh của vở diễn là trong những khu nhà ổ chuột ở Dublin. Một quan điểm, không phải là không giống với Dostoevski, về bạo lực và bi kịch của cuộc nội chiến. Có ám sát, có nghèo đói, có tâm trạng của một kẻ nghiện rượu, có triết lí của những kẻ vô tích sự và có đề cập một chút đến sự cám dỗ, chủ đề đã nhàm. Trong vở kịch có một hai câu hài hước hơi gượng, có lẽ tác giả của nó chưa được đào tạo đến nơi đến chốn. O’Casey chỉ là một người thợ nề, suýt bị quân Anh đem đi bắn vì nhầm với một người khác nhưng may mắn thoát được. Anh ta thực sự biết rõ cuộc sống mà anh ta mô tả.

Nguồn: https://luanvan247.net
Danh mục: Tác giả

Related Articles

Trả lời

Email của bạn sẽ không được hiển thị công khai.

Back to top button